Tổng hợp Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn Lớp 12 - Văn học & Đọc hiểu + Nghị luận xã hội

docx 31 trang tieumy 17/12/2025 210
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tổng hợp Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn Lớp 12 - Văn học & Đọc hiểu + Nghị luận xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxtong_hop_de_cuong_on_tap_hoc_ki_ii_mon_ngu_van_lop_12_van_ho.docx

Nội dung tài liệu: Tổng hợp Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn Lớp 12 - Văn học & Đọc hiểu + Nghị luận xã hội

  1. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 12 PHẦN VĂN HỌC VỢ CHỒNG A PHỦ (Tô Hoài) Đề 1: Trong truyện Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã hai lần nói về việc Mị “vùng bước đi” và “băng đi” ở hai đoạn văn sau: Đoạn 1: “...Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi - Em yêu người nào, em bắt pao nào... Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa... ” Đoạn 2: “...Mị đứng lặng trong bóng tối. Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưnng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc. Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt: A Phủ cho tôi đi. A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói: Ở đây chết mất.... ” (Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, ) Phân tích nhân vật Mị qua hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật khát vọng sống của nhân vật này. 1. MỞ BÀI: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, luận đề. 2. THÂN BÀI A. DIỄN BIẾN TÂM LÍ CỦA MỊ QUA HAI ĐOẠN VĂN * Đoạn văn 1 - Hoàn cảnh xảy ra sự việc: trong không khí vui tươi của đêm tình mùa xuân, đã làm cho Mị hồi sinh, cô ý thức được quyền sống, quyền tự do của mình. Điều đó thôi thúc Mị hành động “ Mị còn trẻ lắm, Mị muốn đi chơi, cô quấn lại tóc, lấy váy hoa” Và A Sử xuất hiện đã dập tắt sức sống vừa nhen nhóm của Mị. - Hành động vùng bước đi của Mị + Giữa âm thanh tiếng sáo, Mị vùng bước đi, quên đi thực tại mình đang bị trói bằng một thúng sợi đay, bởi Mị đang sống với ước mơ vào những đêm tình mùa xuân ngày trước. + . Hơi rượu còn nồng nàn, trong đầu Mị vẫn rập rờn tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi” Chính cái tiếng sáo ấy đã gọi Mị vùng bước đi về với cuộc sống thật của mình , thoát khỏi cuộc sống tù đày trong cái địa ngục trần gian này. Mới biết sức sống tiềm tàng, mãnh liệt đến nhường nào. Sức sống ấy khiến cô quên đi tất cả sự thực xung quanh, không thấy,
  2. không nghe A Sử nói, không biết cả mình đang bị trói chỉ còn biết có tiếng sáo, chỉ còn sống với tiếng sáo, mê man chập chờn - trong tiếng sáo. => Đoạn văn ngắn mà Tô Hoài đã làm nối bật sức sống mãnh liệt đang trào dâng trong lòng cô lúc bấy giờ. Và hành động vùng bước đi cùng với tiếng sáo đã thành một biểu trưng sâu sắc cho ước mơ và sức sống của Mị.đồng thời thể hiện tài năng của Tô Hoài trong việc xây dựng chi tiết nghệ thuật đặc sắc. * Đoạn văn 2 - Hoàn cảnh xảy ra sự việc: Đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, Mị thường thức dây hơ tay, nhìn thấy A Phủ bị trói Mị dửng dưng vì đó là chuyện thường của cái nhà này. Cho đến khi nhìn thấy dòng nước mắt bò xuống hai hõm má sạm đen của A Phủ, Mị chợt nhớ mình cũng từng bị trói đến như thế. Mị nhận tội ác của giai cấp thống trị “ Chúng nó thật độc ác” và người đàn ông vô tội kia sẽ chết, từ thương mình đến thương người Mị quyết định giải cứu A Phủ và cùng A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài. - Hành động “ băng đi” của Mị + Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng "đi ngay" rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. + Thế rồi cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: "A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất". => Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc, Hành động băng đi cùng A Phủ của Mị là hành động tự giải thoát cho chính vuộc đời mình, cô đã tìm thấy hạnh phúc, tìm thấy cuộc sống mới trên mảnh đất Phiềng Sa. B. NHẬN XÉT VỀ KHÁT VỌNG SỐNG CỦA MỊ: - Cả hai đoạn văn đề tập trung làm nổi bật khát yọng sống chân chính cử nhân vật: Đó là khát vọng giải thoát khỏi kiếp nô lệ, khát vọng được sống tự do, sống trong tình yêu, hạnh phúc; - Nếu khát vọng đó ở đoạn 1 chỉ dừng lại ở những diễn biến trong tâm trạng và cũng nhanh chóng bị ngịch cảnh chi phối thì ở đoạn 2 nóđã chuyển hoá thành hành động mạnh mẽ, quyết liệt của nhận vật; - Vì vậy, nhân vật Mị hiện lên không chỉ có khát vọng sống cao đẹp mà còn thể hiện ở tinh thần phản kháng, đấu tranh để được thoát khỏi nô lệ, về với cách mạng. 3. KẾT BÀI:đánh giá chung
  3. Đề 2: Trong đêm đông giải cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài), nhà văn Tô Hoài đã miêu tả hai phản ứng đối lập của nhân vật Mị khi thấy A Phủ bị trói đứng: Lần đầu, lúc nhìn thấy A Phủ bị trói đứng, Mị “vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Lần hai, lúc nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ, Mị “chợt nhớ lại đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác”. Từ việc phân tích tâm trạng nhân vật Mị qua hai phản ứng đối lập trên, anh/chị hãy làm nổi bật sự thay đổi của nhân vật này. 1. MỞ BÀI 2. THÂN BÀI * Hoàn cảnh dẫn đến sự việc: A Phủ vì phạm tội đánh con quan, bi xử nộp phạt, không có tiền phải vay nhà thống lí làm người ở trừ nợ. Do để hổ ăn mất nửa con bò, A Phủ bỉ trói đứng. * Tâm trạng của Mị qua 2 lần nhìn thấy A Phủ bị trói - Lần thứ 1: + Khi thấy A Phủ bị trói Mị “ vẫn thản nhiên” vì đó là điều bình thường trong cái nhà này. + Trạng thái lạnh lẽo tê dại trong tâm hồn Mị Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Một người với nỗi đau riêng quá lớn không còn khả năng quan tâm đến người khác Cô sống mà như đã chết. - Lần thứ 2 + Khi nhìn “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” A Phủ khóc. nỗi đau xót vì bất lực đã khiến gã thanh niên vốn cứng rắn ấy phải rơi nước mắt, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai lõm má đã xám đen. Dòng nước mắt đó như giọt nước cuối cùng làm tràn li nước đầy. Dòng nước mắt đó đủ sức đưa Mị ra khỏi cõi u mê để trở về cuộc đời thực: Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Dòng nước mắt của A Phủ đã giúp Mị nhớ ra mình, tự xót thương mình.
  4. + Nhận ra sự độc ác và bất công: từ cảnh ngộ của mình và những người đàn bà bị hành hạ ngày trước, đến cảnh đau đớn và bất lực của A Phủ trước mắt, Mị nhận thấy chúng nó thật độc ác, thấy người kia việc gì mà phải chết. => Để rồi từ sự vô cảm ban đầu chuyển sang sự đồng cảm. Chị dần dần có sự xót thương đối với A Phủ, một người cùng cảnh ngộ. Từ ý nghĩ về mình, Mị chuyển ý nghĩ sang A Phủ.Tình thương cứ thế lan tỏa dần. Cách miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tài tình, hợp lí đã tạo nên sự thay đổi số phận nhân vật một cách thuyết phục. * Sự thay đổi của nhân vật Mị: Thay đổi trong nhận thức của Mị dẫn đến hành động của Mị cũng thay đổi : + Ban đầu Mị cam chịu, sống với nổi khổ đau riêng mình. Cho nên thấy A Phủ bị trói Mị cũng thản nhiên. + Dòng nước mắt của A Phủ giúp Mị thay đổi rất nhiều, cô nhận ra đau khổ, bất công không chỉ có Mị, mà còn có A Phủ, có người đàn bà vô tội kia. + Từ vô cảm chuyển sang đồng cảm, từ âm thầm nhẫn nhục chịu đựng, chuyển sang phản kháng quyết liệt “ chúng nó thật độc ác”. => Tô Hoài đã miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Mị thật tinh tế, sâu sắc. Đoạn văn miêu tả sức sống mãnh liệt và khát vọng tự do, hạnh phúc của Mị có giá trị nhân đạo cao. 3. KẾT BÀI: đánh giá chung.
  5. Đề 3: Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị đoạn văn sau, từ đó nhận xét về tư tưởng nhân đạo của tác giả. (1) Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Anh ném pao, em không biết Em không yêu, quả pao rơi rồi Lúc ấy, A Sử vừa ở đâu về, lại đang sửa soạn đi chơi. A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trắng lên đầu. Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm. Nó còn muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ. Cũng chẳng bao giờ Mị nói gì. Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo.Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị lại quấn tóc. Mị lấy cái váy hoa vắt ở trong vách. (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài,NXB Giáo dục Việt Nam, 2012) 1. MỞ BÀI: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, luận đề. 2. THÂN BÀI A. Nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài: * Nội dung: - Tình huống: Trong đêm tình mùa xuân, người người nô nức đi chơi, còn Mị phải ở nhà. Tiếng sáo, hơi rượu và không khí ngày Tết ở Hồng Ngài khiến lòng Mị trẻ lại, bồi hồi, xúc động... - Tâm trạng, hành động của Mị: + “Mị ngồi xuống giường. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước” -> Mị không còn giống tảng đá như trước, tâm hồn Mị đã có những cảm xúc; Mị nhớ về quá khứ tươi đẹp và cảm thấy vui . + Mị ý thức mình còn trẻ cũng là cô hiểu rõ mình có quyền được hưởng hạnh phúc lứa đôi. + Nhưng hiện thực đen tối đối lập với quá khứ tươi đẹp, mơ ước về hạnh phúc khó trở thành sự thật. Mị lại muốn chết. “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này,Mị sẽ ăn cho chết ngay,chứ không buồn nhớ lại nữa”. Mị ý thức được quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của mình đã bị tước đoạt. Mị đang sống trong hoàn cảnh bi thảm mà cô khó có thể thoát ra được. Ý nghĩ về cái chết lúc này có thể được coi như một hành động phản kháng để lên tiếng đòi quyền được sống, được hạnh phúc; “Mị đến góc nhà,lấy ống mỡ,xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng” -> Hành động của sự thức tỉnh. Mị thắp đèn là thắp lên ánh sáng để xua tan bóng tối đang bao phủ căn buồng mình, cuộc đời mình, là làm cho khát vọng về hạnh phúc của mình sớm trở thành hiện thực. Có thể nói hành động Mị thắp đèn là một bước chuyển quan trọng đánh dấu sự thức tỉnh trong tâm hồn Mị. Cô đang thắp lên ánh sáng của niềm tin, hi vọng. + “Mị lại quấn tóc. Mị lấy cái váy hoa vắt ở trong vách” -> thiên tính nữ trở về khi con người ta khao khát tình yêu, khao khát hạnh phúc.
  6. => Dù tuyệt vọng, dù hành động và khao khát của Mị bị chặn đứng bởi bàn tay độc ác, thô bạo của A Sử nhưng những tâm trạng, hành động đó đã cho thấy sự hồi sinh, sự thức tỉnh mạnh mẽ của Mị. B. TƯ TƯỞNG NHÂN ĐẠO CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI: - Tố cáo tội ác của bọn thống trị miền núi chà đạp quyền sống Mị - Đồng cảm, xót thương cho số phận đầu khổ đau, ngang trái mà Mị là một điển hình tiêu biểu - Trận trọng nâng niu nhựng ước mơ, khát vọng dù nhỏ nhoi của Mị - Ngợi ca và khẳng dịnh vẻ đạp tâm hồn của họ sức sống tiềm tàng nhưng vô cùng mãnh liệt vượt qua mọi trở ngại. 3. KẾT BÀI. Đánh giá chung Đề 6: Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, tác giả đã hai lần miêu tả hình ảnh A Phủ bị trói. Lần thứ nhất, sau khi đánh A Sử, A Phủ bị bắt về quỳ chịu tội trong xó nhà, A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá. Lần thứ hai, khi bị hổ bắt mất bò, A Phủ bị trói đứng trong bếp, khi ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Phân tích nhân vật A Phủ trong hai lần thay đổi trên để làm nổi bật sự thay đổi của nhân vật này. 1. MỞ BÀI: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, luận đề. 2. THÂN BÀI * Hai lần A Phủ bị trói - Lần 1 + Hoàn cảnh dẫn đến sự việc: A Phủ phạm tội đánh con quan, bi làng xét xử A Phủ bị bắt về quỳ chịu tội trong xó nhà, A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá + A Phủ là đứa con của núi rừng, tự do mà vẫn không thoát khỏi kiếp sống nô lệ. Do tính tình phóng khoáng, bướng bỉnh và yêu lẽ phải, chính nghĩa nên A Phủ đã dám đánh lại con nhà quan khi hắn phá đám chơi ngày Tết + Sau đó A Phủ bị cha con thống lí Pá Tra và bọn tay sai bắt và đánh đập vô cùng tàn bạo, dã man. Bọn thống lí và chức việc kéo đến ăn cỗ, hút thuốc phiện và đánh đập A Phủ suốt từ trưa đến hết đêm: “càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi Tuy vậy A Phủ không hề khóc lóc, van xin mà trái lại vẫn tỏ ra bất khuất, cứng rắn, gan dạ “A Phủ quỳ chịu đòn chỉ im lặng như tượng đá”. Cuối cùng, với cách xử kiện quái gở, người phát đơn kiện cũng là người xử kiện, A Phủ đã bị phạt làm nô lệ suốt đời không công cho nhà thống lí. => A Phủ là một người gan lì, dũng cảm, không bao giờ chùn bước trước bạo lực cường quyền. - Lần hai: + Hoàn cảnh dẫn đến sự việc A Phủ để hổ ăn mất nửa con bò, bỉ trói đứng ở cọc + Giọt nước mắt A Phủ chảy xuống, là giọt nước mắt của một chàng trai khỏe mạnh một chàng trai tưởng như không biết sợ là gì nhưng bây giờ lại khóc? “hai mắt A Phủ vừa mở, một dòng nước mắt bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”
  7. + Đó là giọt nước mắt vô cùng hiếm hoi mà ta tưởng như không thể ngờ tới. Giọt nước mắt ấy thể hiện một nỗi đau đến tột cùng đau đớn không chỉ bởi sự thít chặt của những sợi dây mây mà có lẽ còn là sự đáng thương A Phủ đang nghĩ tới số phận của mình. + A Phủ khóc, nhưng đó không hẳn là sự khóc của cam chịu giọt nước mắt ấy là của con người nghĩa khí và quật cường, lấp lánh lên những hi vọng được sống khát khao được sống. => Tuy A Phủ đã rơi vào hoàn cảnh khốn đốn, anh dường như đang đứng giữa ranh giới giữa sự sống và cái chết nhưng bản chất dũng cảm, gan góc của anh vẫn luôn tồn tại trong bất kì hoàn cảnh nào Chi tiết giọt nước mắt A Phủ đã cho ta thấy cuộc sống và hoàn cảnh đáng thương của người dân lúc bấy giờ. Tố cáo chế độ phong kiến và nổi bật tư tưởng nhân đạo của Tô Hoài. 3. KẾT BÀI: đánh giá chung
  8. VỢ NHẶT- KIM LÂN ĐỀ 1. Ý nghĩa của nhân vật “thị” đối với nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân. 1. MB- Giới thiệu ngắn gọn về Kim Lân và truyện ngắn “Vợ nhặt”, nội dung vấn đề. 2.TB: - Nhân vật “thị” xuất hiện khá mờ nhạt trong tác phẩm: không tên tuổi, gốc tích, cá tính đanh đá, bạo dạn, liều lĩnh do sự tác động của hoàn cảnh, tưởng như không đáng lưu tâm, chú ý. - Nhân vật “thị” có ý nghĩa quan trọng đối với Tràng: + Đánh thức ở Tràng lòng nhân hậu, niềm khát khao hạnh phúc (dẫn chứng và phân tích những biểu hiện của Tràng khi gặp “thị” ở ngoài chợ và khi cùng “thị” về nhà). + Giúp Tràng nhận ra ý nghĩa của mái ấm gia đình và ý thức trách nhiệm của bản thân (dẫn chứng và phân tích những biểu hiện của Tràng buổi sáng sau đêm tân hôn). + Gợi trong Tràng những suy nghĩ về tương lai hướng đến với cách mạng (dẫn chứng và phân tích những biểu hiện của Tràng khi nhớ lại hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới). C. KB- Đánh giá * Nội dung: nhân vật “thị” để lại ấn tượng đẹp trong suy nghĩ và tình cảm của người đọc; tấm lòng nhân đạo của nhà văn; giá trị nhân đạo của tác phẩm, * Nghệ thuật: tạo dựng tình huống hấp dẫn, độc đáo, éo le; diễn biến tâm lý nhân vật đặc sắc; ngôn ngữ giản dị, ấn tượng,
  9. Đề 2. Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn ”Vợ nhặt”-Kim Lân. 1. MB- Giới thiệu ngắn gọn về Kim Lân và truyện ngắn “Vợ nhặt”, nội dung vấn đề. 2. TB: * Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của nó. * Giá trị nhân đạo cao cả trong truyện: - Cái đẹp tiềm ẩn của Tràng: sự thông cảm, lòng thương người, sự hào phóng, chu đáo (đãi người đàn bà bốn bát bánh đúc, mua cho chị ta cái thúng con, cùng chị đánh một bữa thật no nê), tình nghĩa và thái độ trách nhiệm - Sự biến đổi của người “vợ nhặt” sau khi theo Tràng về nhà: vẻ chao chát, chỏng lỏn ban đầu biến mất, thay vào đó là sự hiền hậu, đúng mực, sự mau mắn trong việc làm, sự ý tứ trong cách cư xử - Tấm lòng nhân hậu của bà cụ Tứ: thương con rất mực, cảm thông với tình cảnh của nàng dâu, trăn trở về bổn phận làm mẹ, cố tạo niềm vui trong gia đình giữa cảnh sống thê thảm . 3.- Đánh giá Giá trị nhân đạo của tác phẩm này là niềm tin tưởng sâu sắc vào con người lao động, vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ.
  10. Đề 3. Suy nghĩ về ý kiến của nhà giáo Trần Đồng Minh nhận xét về tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân: “Câu chuyện “Vợ nhặt” đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng”. 1.MB- Giới thiệu ngắn gọn về Kim Lân và truyện ngắn “Vợ nhặt”, nội dung vấn đề, dẫn ý kiến. B.TB: - Giải thích: + “Bóng tối” trong tác phẩm có ý nghĩa biểu tượng. Đó chính là không khí ảm đạm chết chóc của xóm ngụ cư trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. -> “đầy bóng tối”: không gian của tác phẩm bao trùm bởi không khí ảm đạm chết chóc của xóm ngụ cư trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. + “những tia sáng ấm lòng” có ý nghĩa biểu tượng. Đó chính là niềm tin vào tình người, vào khát vọng hạnh phúc và tương lai -> “lóe lên những tia sáng ấm lòng”: tác phẩm vẫn sáng lên niềm tin vào tình người, vào khát vọng hạnh phúc và tương lai => Từ trong hiện thực tăm tối đói khổ, giá trị của tác phẩm vẫn sáng lên khi con người vẫn yêu thương đùm bọc, vẫn khát vọng hạnh phúc, tràn đầy niềm tin vào tương lai, - Nhận xét: Khẳng định ý kiến hoàn toàn đúng đắn và chính xác. - Chứng minh, phân tích: + Bóng tối - không khí ảm đạm chết chóc của xóm ngụ cư trong nạn đói khủng khiếp 1945: + Những tia sáng ấm lòng: * Ánh sáng từ thời gian * Ánh sáng từ tình người (dc+pt: Tràng, bà cụ Tứ). * Ánh sáng của khát khao hạnh phúc gia đình, hướng tới tương lai tươi sáng (dc+pt. * Ánh sáng của cách mạng ( hình ảnh lá cờ đỏ trong suy nghĩ của anh Tràng) -> Đây là nguồn ánh sáng rực rỡ nhất xua tan đi toàn bộ bóng tối trong tác phẩm. 3.KB: Đánh giá * Nội dung: Chi tiết kết thúc tác phẩm -> tạo nên một kết thúc đầy lạc quan. Dù ánh sáng chỉ “lóe lên” nhưng nó đủ sức chiến thắng bóng tối trong cuộc giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối -> Mạch ánh sáng ngầm trong tác phẩm => Giá trị nhân đạo. * Nghệ thuật: tình huống truyện éo le, độc đáo, hấp dẫn; bút pháp tương phản giữa ánh sáng và bóng tối; diễn biến tâm lý nhân vật; ngôn ngữ giản dị, ấn tượng,
  11. Đề 4. Trong truyện ngắn Vợ nhặt - Kim Lân đặt trong bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Tuy nhiên Kim Lân lại tập trung miêu tả hai bữa ăn, bữa ăn Tràng đãi người vợ nhặt ngoài chợ và bữa ăn ở gia đình Tràng. Em hãy phân tích ý nghĩa hai bữa ăn đó qua hai đoạn trích sau Đoạn 1. « Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một đùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành. Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này : - Tràng ạ, khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tin rằng chổ bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem... Tràng chỉ vâng. Tràng vâng rất ngoan. Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế. Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng dừng lại. Niêu cáo lõng bõng mỗi người được có lưng hai bát thì hết nhẵn. Bà lão đặt bát đũa xuống nhìn hai con vui vẻ : - Chúng mày đợi u nhá. Tao có cái này hay lắm cơ. Bà lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi nghút. Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy vừa cười: - Chè đấy – Bà lão múc ra một bát – Chè khoán đấy, ngon đáo để cơ. Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng. Tràng cầm lấy cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười đon đả : - Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ ăn thử mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy. » Đoạn 2. « ...Tràng vừa trả hàng xong, ngồi uống nước ở ngoài cổng chợ tỉnh thì Thị ở đâu sầm sập chạy đến. Thị đứng trước mặt hắn sưng sỉa nói : - Điêu ! Người thế mà điêu ! Hắn giương mắt nhìn thị, không hiểu. Thật ra lúc ấy hắn chưa nhận ra thị là ai. Hôm nay thị rách quá, quần áo tả tơi như tổ đĩa, thị gầy sộp hẳn đi, trên gương mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt. - Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt À hắn nhớ ra rồi, hắn toét miệng cười. - Chả hôm ấy thì hôm nay vậy. Này hẳng ngồi xuống ăn miếng giầu đã - Có ăn gì thì ăn chả ăn giầu. Thị vẫn đứng cong cớng trước mặt hắn - Đấy muốn ăn gì thì ăn Hắn vỗ vỗ vào túi - Rích bố cu hở ! Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả - Ăn thật nhá ! Ừ ăn thì ăn sợ gì Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật.Thị cắm đầu ăn một chập bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong thị cầm đũa quệt ngang miệng, thở : - Hà ngon,....’
  12. GỢI Ý: 1.MB- Giới thiệu ngắn gọn về Kim Lân và truyện ngắn “Vợ nhặt”, nội dung vấn đề. 2.TB : * Bữa ăn thứ 1: Tràng đãi người vợ nhặt ngoài chợ + Tràng thanh niên nghèo, làm nghề đẩy xe thóc, người vợ nhặt đang lang thang đói rách. Hai người xa lạ gặp nhau qua câu nói đùa. + Người đàn bà gợi ý được mời ăn cắm đầu ăn một chập bất chấp danh dự, nhân phẩm + Bữa ăn thể hiện khát vọng sống mãnh liệt của con người, Trong cái đói người ta không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống * Bữa ăn thứ 2: Bữa ăn ở gia đình Tràng : + Đó là bữa sáng mà mọi người tràn ngập niềm vui và niềm hạnh phúc + Bữa cơm đón dâu mới thật thảm hại chỉ có cháo loãng ăn với muối, và món chè cám đắng chát, Dù vậy nỗi buồn chỉ thoáng qua và trong đầu mọi người là một tương lai tươi sáng + Trong lúc đói khổ và cái chết chực chờ con người luôn biết dựa vào nhau, yêu thương nhau và luôn vững tin vào tương lai. Đây chính là bữa ăn của tình yêu và niềm tin - Đánh giá Cả hai bữa ăn : một mặt phản ánh cái đói khủng khiếp, một thể hiện sự cảm thông thấu hiểu sâu sắc của Kim Lân đối với người nông dân. Tư tưởng nhân văn sâu sắc. 3. KB: đánh giá chung
  13. CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA NGUYỄN MINH CHÂU ĐỀ 1. Suy nghĩ về tình huống truyện trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. 1.MB- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Minh Châu, tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”, nội dung vấn đề. 2.TB: a. Giải thích: Tình huống truyện là “ tình huống nhận thức” có ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật đời sống. Tình huống này đã cắt nghĩa giây phút “ giác ngộ” chân lý của nhân vật làm biến đổi nhận thức của 2 nhân vật Phùng và Đẩu. b. Phân tích: * Nhân vật Phùng – nghệ sĩ nhiếp ảnh: - Trong quá trình đi tìm một bức ảnh nghệ thuật cho bộ lịch năm mới ở vùng biển miền Trung, anh chứng kiến 2 cảnh tượng trái ngược nhau sự biến đổi trong nhận thức. + Chiếc thuyền ngoài xa. + Chiếc thuyền vào đến bờ. - Thực tế đã chứng kiến cùng câu chuyện kể của người đàn bà hàng chài khiến anh cảm thông, thấm thía, làm đảo lộn nhận thức của Phùng anh ngộ ra nhiều điều. + Nhận thức về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời (Vận dụng từ đề 3). + Ấn tượng khi nhìn bức ảnh đen trắng (Vận dụng từ đề 3).  Qua đây, tác giả như muốn nói: người nghệ sĩ phải trung thực, dũng cảm nhìn thẳng và nhìn sâu sắc vào hiện thực; hãy rút ngắn khoảng cách giữa nghệ thuật và cuộc đời. * Nhân vật Đẩu – chánh án tòa án huyện: chính câu chuyện về cuộc đời của người đàn bà hàng chài làm cho anh có sự biến đổi trong nhận thức và suy nghĩ . 3.KB : Đánh giá * Nội dung: khám phá, phát hiện về hiện thực đời sống và mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc đời con người. * Nghệ thuật: - Tình huống truyện độc đáo, có ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống. - Tác giả lựa chọn ngôi kể,điểm nhìn thích hợp,làm cho câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực và có sức thuyết phục. - Ngôn ngữ nhân vật sinh động,phù hợp với tính cách.Lời văn giản dị mà sâu sắc,đa nghĩa
  14. Đề 2. Ý nghĩa đoạn kết “Chiếc thuyền ngoài xa” Nguyễn Minh Châu “Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất, hòa lẫn trong đám đông ” 1. MB: - Giới thiệu ngắn gọn về Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, nội dung vấn đề. 2. TB: * Sơ lược tình huống dẫn đấn kết thúc tác phẩm: Sau hòa bình, Phùng trở lại chiến trường xưa. Tại đây, Phùng đã chụp được một tấm ảnh tuyệt đẹp về chiệc thuyền giữa buổi sàng mờ sương. Nhưng anh cũng đắng cay nhận ra nghịch cảnh: Trên chiếc tthuyền ấy là cái nghèo đói, là người người phụ nữ nhẫn nhịn trước những trận đòn dã man của người chồng. Cuối cùng, Phùng hiểu vì sao người phụ nữ không chịu bỏ lão chồng vũ phu. * Phân tích chi tiết kết thúc truyện: + Hình ảnh cái màu hồng hồng của ánh sương mai + Hình ảnh người đàn bà lam lũ bước ra khỏi bức ảnh. * Ý nghĩa của cách kết thúc: Cách kết thúc có sức ám ảnh kì lạ, thể hiện sự chiêm nghiệm giữa cuộc đời và NT. 3. KB: - Đánh giá * Nội dung: Chi tiết kết thúc tác phẩm -> tạo nên một kết thúc đầy lạc quan. Dù ánh sáng chỉ “lóe lên” nhưng nó đủ sức chiến thắng bóng tối trong cuộc giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối -> Mạch ánh sáng ngầm trong tác phẩm => Giá trị nhân đạo. * Nghệ thuật: tình huống truyện éo le, độc đáo, hấp dẫn; bút pháp tương phản giữa ánh sáng và bóng tối; diễn biến tâm lý nhân vật; ngôn ngữ giản dị, ấn tượng,
  15. ĐỀ 3. Cảm nhận về hai đoạn văn được trích trong “ Chiếc thuyền ngoài xa” “Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh "đắt" trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong gần tâm hồn. Chẳng phải lựa chọn xê dịch gì nữa, tôi gác máy lên bánh xích của chiếc xe tăng hỏng bấm "liên thanh" một hồi hết một phần tư cuốn phim, thu vào chiếc Pratica cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại.” “ Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền. Họ phải lội qua một quãng bờ phá nước ngập đến quá đầu gối. Bất giác tôi nghe người đàn ông nói chõ lên thuyền như quát: "Cứ ngồi nguyên đấy. Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ". Chắc chắn họ không trông thấy tôi. Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. Người đàn ông đi sau. Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà. (...)Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: "Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!". (...) Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy.” GỢI Ý: 1.MB: Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Minh Châu, tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”, nội dung vấn đề. 2.TB: Luận điểm 1: Phát hiện của nghệ sĩ Phùng
  16. Đoạn 1: Phát hiện thứ nhất ( phân tích đoạn 1 ) Đoạn 2: Phát hiện thứ 2 ( phân tích đoạn 2) Luận điểm 2: So sánh điểm tương đồng và sự khác biệt: - Điểm tương đồng: Cùng trong một tác phẩm, cùng thể hiện cách nhìn của tác giả về nghệ thuật và cuộc đời. - Sự khác biệt: + Đoạn 1: Là phát hiện của nhà văn về vẻ đẹp của nghệ thuật + Đoạn 2: Là phát hiện của nhà văn về sự thật của cuộc đời.  Chính sự đối lập của hai bức tranh là sự khám phá mới mẻ của Nguyễn Minh Châu về mối quan hệ giữa cuộc dời và nghệ thuật. III.Kết bài: Đánh giá chung. RỪNG XÀ NU
  17. NGUYỄN TRUNG THÀNH ĐỀ 1: Trong truyện ngắn Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành đã có nhiều chi tiết nói về phản ứng tâm lí và hành động của Tnú vào cái đêm thằng Dục dẫn lính về làng Xô Man. Miêu tả tâm lí và hành động Tnú khi chứng kiến cảnh Mai và đứa con bị đánh đến chết, nhà văn viết: "Một tiếng hét dữ dội. Tnú nhảy xổ vào giữa bọn lính. Anh không biết đã làm gì. Chỉ thấy thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng Dục tháo chạy vào nhà ưng. Tiếng lên đạn lách cách quanh anh. Rồi Mai ôm đứa con chui vào ngực anh. Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai". Miêu tả tâm lí và hành động của Tnú khi bị thằng Dục tẩm dầu xà nu đốt mười đầu ngón tay, nhà văn viết: "Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy trong bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên. Anh Quyết nói: "Người cộng sản không thèm kêu van ". Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!" Phân tích nhân vật Tnú trong hai lần miêu tả như trên. Từ đó, nhận xét sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của nhân vật. I/.Mở bài: Giới thiệu tác giả Nguyễn Trung Thành và truyện Rừng xà nu, vấn đề cần nghị luận. II/.Thân bài: 1. Phân tích tâm lí và hành động của Tnú khi chứng kiến cảnh Mai và đứa con bị đánh đến chết: - Hoàn cảnh cụ thể: + Dân làng chưa sẵn sàng để chống lại bọn thằng Dục. Cụ Mết và Tnú cùng thanh niên trong làng đang phải vào rừng lẩn trốn; + Tnú chứng kiến cảnh Mai và con bị bọn lính đánh đến chết. -Tâm lí và hành động của nhân vật Tnú: + Tnú kêu lên đau đớn; + Tnú lao ra cứu vợ và con nhưng Mai và đứa con đã chết. Tnú bị bắt trói vào gốc cây xà nu. -Ý nghĩa: + Thể hiện nỗi đau mất mát không thể kìm nén; + Thể hiện hành động mang tính tự phát và đơn độc của Tnú khi dân làng chưa sẵn sàng để hành động chống lại kẻ thù. 2. Phân tích tâm lí và hành động của Tnú khi bị thằng Dục tẩm dầu xà nu đốt mười đầu ngón tay: - Hoàn cảnh cụ thể: Sau cái chết của Mai và con, Tnú bị thằng Dục tẩm dầu xà nu đốt mười đầu ngón tay. -Tâm lí và hành động của nhân vật Tnú: + Không thấy lửa ở mười đầu ngón tay; + Cắn nát cả môi, cảm thấy mặn chát ở đầu lưỡi; + Nhớ đến lời anh Quyết; + Tnú không kêu van; + Tnú cảm thấy lửa cháy cả ruột đây rồi. -Ý nghĩa: + Thể hiện nỗi đau tột cùng và sự kìm nén của Tnú; + Thể hiện sự vận động của nỗi đau thành nỗi căm thù; + Thể hiện ý chí của người cộng sản đã trưởng thành trong nhận thức cách mạng và lí tưởng đấu tranh.
  18. 3. Nhận xét sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của nhân vật Tnú. 1.0đ - Qua hai lần miêu tả, tác giả đều thể hiện những nỗi đau, những bi kịch cuộc đời và phẩm chất anh hùng, lòng gan dạ, dũng cảm, yêu thương và căm thù trong tâm hồn Tnú - người chiến sĩ cách mạng; - Qua hai lần miêu tả, nhân vật Tnú có sự chuyển biến trong nhận thức và hành động: biến nỗi đau thành sức mạnh và lòng căm thù, báo hiệu về hành động trả thù quật khởi. Đó chính là tính cách và phẩm chất anh hùng cách mạng của người dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ . III/.Kết bài: Đánh giá chung HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT LƯU QUANG VŨ
  19. ĐỀ: Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, khi đối thoại với nhân vật Đế Thích, nhân vật Trương Ba đã nói:“Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. (Lưu Quang Vũ - Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.148 và tr.152) Phân tích bi kịch khi sống trong cảnh hồn này, xác nọ và ước muốn của nhân vật Trương Ba qua lời đối thoại trên, từ đó làm nổi bật ý nghĩa phê phán mà tác giả gửi gắm. 1.Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm , luận đề 2.Thân bài: *. Bi kịch khi sống trong cảnh hồn này, xác nọ - Qua đối thoại với xác hàng thịt: + Tình huống kịch bắt đầu từ khi Hồn Trương Ba nhập vào thân xác anh hàng thịt, anh ta phải gánh chịu nhiều đau khổ: + Xác hàng thịt đã chỉ rõ sự tha hoá không tránh khỏi của hồn Trương Ba khi Trương Ba phải nhờ vào nó để tồn tại: Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân..ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi. +Trương Ba hầu như không còn được sống theo cách riêng của mình, linh hồn hoàn toàn lệ thuộc vào những yếu tố vật chất của thân xác, tồn tại qua thân xác, cái thân xác không phải của mình. Đó là nguyên nhân khiến linh hồn của Trương Ba rơi vào tình trạng bất lực trước sự sai khiến ghê gớm của thân xác âm u đui mù. Nhân vật đau khổ khi khổng thể làm chủ được bản thân mình. Đây chính là bi kịch tha hoá của nhân vật. - Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba qua đối thoại với người thân trong gia đình: + Những người trong gia đình không có ai hiểu ông, họ nghi ngờ, xa lánh ông (vợ ông định bỏ đi thật xa, con trai không nghe lời khuyên của cha, cháu nội gọi ông là lão đồ tể...). Họ không thông cảm, chia sẽ và thấu hiểu cho những khó khăn mà ông đang phải cố gắng để vượt qua từ khi nhập vào thân xác của anh hàng thịt. + Hồn Trương Ba cũng thấy rằng, mình là nguyên nhân gây nên những rắc rối, xáo trộn, bất an trong gia đình trong khi ông chỉ muốn đưa đến cho mọi người những điều tốt đẹp. Đây chính là bi kịch bị từ chối của nhân vật. *. Ước muốn của nhân vật Trương Ba: Tôi muốn là tôi toàn vẹn - Nhân vật còn mang nỗi đau của một con người tự ý thức. Là người giàu lòng vị tha nên Hồn Trương Ba day dứt trước hiện tại của bản thân. Hồn Trương Ba nhận ra mình đang bị tha hoá, nhiểu khi phải thoả hiệp với những đòi hỏi xác-thịt, không giữ được bản tính cao khiết như trước đây. Ông luôn bị dằn vặt bởi chính nghịch cảnh phải sống “bên trong một đàng, bên ngoài một nẻo”. - Vì thế, khi đối thoại với Đế Thích, Trương Ba thể hiện ý nguyện của mình: Tôi muốn là tôi toàn vẹn + Lời thoại này trước hết cho thấy một bước trưởng thành, một bước ngoặt quan trọng trong nhận thức của Trương Ba. Từ chỗ đánh giá phiến diện về thân xác người, Trương Ba đã có cái nhìn đúng đắn, đó là cuộc sống tốt đẹp của người chỉ có thể được tạo nên từ sự hài hòa giữa hai đời sống của thể xác và tâm hồn. Nhận thức tưởng chừng như đơn giản đó của Trương Ba đã phải đánh đổi bằng rất nhiều đau khổ, nước mắt của chính bản thân ông và người thân nên nó là một nhận thức vô cùng quý giá. + Khao khát mãnh liệt, cháy bỏng “là tôi toàn vẹn” của Trương Ba còn cho thấy nhân cách cao đẹp của Trương Ba. Nhân vật đã không còn chấp nhận chung đụng với cái thô lỗ tầm thường, dung tục và để nó sai
  20. khiến, mà muốn được trở về sống trọn vẹn với cái lương thiện, trong sáng, tốt đẹp vốn có. + Ý nghĩa: Ước muốn của Trương Ba cũng là triết lí nhân sinh của Lưu Quang Vũ: sống là chính mình, không chấp nhận lối sống gửi, sống nhờ. Đồng thời, phải biết sống vị tha ( vì người khác), sống cao thượng. Cuối cùng, Trương Ba chấp nhận được chết hẳn, trả lại xác hàng thịt và xin cu Tị sống lại. Lựa chọn đó đã làm sáng lên nhân cách tốt đẹp, cao cả của Trương Ba. *. Ý nghĩa phê phán mà tác giả gửi gắm qua lời thoại: Từ nỗi đau khổ của Trương Ba khi phải sống trong thân xác anh hàng thịt, khi phải chung đụng với cái tầm thường, dung tục và có khi bị cái tầm thường, dung tục ấy sai khiến, LQV đã cho thấy bi kịch của tất cả những ai không được sống là mình: “Bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, ở độ hàm chứa lời răn đe, cảnh tỉnh vô cùng nghiêm khắc của tác giả với những ai đang cố gắng tạo cho mình một vỏ bọc, bề ngoài giả dối khác với bản chất thực bên trong, bởi dù bị ép buộc hay cố tình thì hậu quả của nó cũng là vô cùng to lớn. 3.Kết bài: Đánh giá chung