SKKN Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn Khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường Tiểu học - THCS Thắng Lợi Thành phố Kon Tum

pdf 25 trang tieumy 14/10/2025 760
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn Khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường Tiểu học - THCS Thắng Lợi Thành phố Kon Tum", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_su_dung_thi_nghiem_trong_day_hoc_bo_mon_khoa_hoc_tu_nhi.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn Khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường Tiểu học - THCS Thắng Lợi Thành phố Kon Tum

  1. PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ KON TUM TRƯỜNG TH - THCS THẮNG LỢI    Tên đề tài: SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC BỘ MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 6 ĐỂ PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TH – THCS THẮNG LỢI THÀNH PHỐ KON TUM Tên tác giả: VĂN TRƯƠNG NGỌC HẠNH Môn: KHOA HỌC TỰ NHIÊN 6 Đơn vị công tác: TRƯỜNG TH - THCS THẮNG LỢI Kon Tum tháng 3/2023
  2. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum PHẦN I: MỞ ĐẦU: I. LÝ DO CHỌN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: Từ năm học 2021- 2022, học sinh lớp 6 trên cả nước sẽ lần đầu tiên được tiếp xúc với một môn học mới mang tên: Khoa học tự nhiên. Đây là môn học “lạ mà quen” nằm trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nội dung môn học được tích hợp kiến thức ở nhiều lĩnh vực như Vật lí, Hóa học, Sinh học, Khoa học về Trái đất & bầu trời, Học sinh sẽ có cơ hội được trải nghiệm kiến thức thông qua những video mô phỏng thực tế và các thí nghiệm thực hành nghiên cứu, chế tạo. KHTN là khoa học có sự kết hợp nhuần nhuyễn lí thuyết với thực nghiệm. Vì vậy, thực hành, thí nghiệm trong phòng thực hành, phòng học bộ môn, ngoài thực địa có vai trò và ý nghĩa quan trọng, là hình thức dạy học đặc trưng của môn học này. Qua đó, năng lực tìm tòi, khám phá của học sinh được hình thành và phát triển. Nhiều kiến thức khoa học tự nhiên rất gần gũi với cuộc sống hằng ngày của học sinh, đây là điều kiện thuận lợi để tổ chức cho học sinh trải nghiệm, nâng cao năng lực nhận thức kiến thức khoa học, năng lực tìm tòi, khám phá và vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn. KHTN là môn học có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của HS, có vai trò nền tảng trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS cấp trung học cơ sở. Đây là môn học mới được xây dựng trên nền tảng kiến thức của các phân môn: Hóa học, Vật lý, Sinh học. Trong đó, lần đầu tiên lĩnh vực Hóa học được đưa vào giảng dạy từ lớp 6 nhưng học sinh chỉ học các đơn bị kiến thức nhỏ như dung dịch và không khí, oxi để bổ trợ cho các đơn vị kiến thức khác như Vật lý, Sinh học. KHTN là Khoa học thực nghiệm – nghiên cứu tự nhiên. Bắt đầu từ quan sát – phán đoán, dự đoán – Thực hành, thí nghiệm – Điều chỉnh dự đoán – Rút ra kết luận và Ứng dụng kiến thức vào cuộc sống. - Đối với những thí nghiệm rất phức tạp đòi hỏi thời gian quá nhiều, thao tác phức tạp thì cần cho học sinh quan sát thí nghiệm ảo và làm ở nhà trước khi lĩnh hội kiến thức mới. -Trước bối cảnh đó, tôi đề xuất giải pháp dạy học phát triển phẩm chất và năng lực học sinh thông qua việc hướng dẫn học sinh rút ra được kiến thức bài học, qua việc tự làm thí nghiệm tại nhà, quan sát thí nghiệm ảo và thực hành thí nghiệm tại lớp. - Với mong muốn các em có thể chủ động tìm hiểu kiến thức, tự tin trình bày trước tập thể, và phát huy năng lực sáng tạo của học sinh trong việc làm thí nghiệm phục vụ cho bài học để ghi nhớ kiến thức một cách dễ dàng nhất và tạo hứng thú cho tiết học. Học sinh tiếp thu đạt kết quả tốt hơn, chính vì lẽ đó tôi đã mạnh dạn nêu ra sáng kiến kinh nghiệm của mình: “Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum”. Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 1
  3. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum II.PHẠM VI GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU: - Đối tượng nghiên cứu: Học sinh 2 lớp 6A và 6B trường TH – THCS Thắng Lợi – Phường Thắng Lợi – TP Kon Tum – Tỉnh Kon Tum. - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 - 2022 đến tháng 02 - 2023. - Giới hạn sáng kiến: Kiến thức của một số bài minh họa: Oxygen. Không khí, hỗn hợp các chất chỉ đề cập một vấn đề nhỏ trong việc đổi mới phương pháp dạy học: Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum”. III. MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: Trong dạy học môn Khoa học tự nhiên, thực hiện các thí nghiệm là để kiểm tra, kiểm nghiệm giả thuyết có liên quan tới lí thuyết.Thí nghiệm minh họa các nội dung khoa học như các định luật, quy tắc,...; Thí nghiệm được thiết kế giúp cho quá trình quan sát và phân tích của học sinh được thuận lợi, cho phép quan sát các quá trình diễn ra trong những điều kiện khác nhau, có thể được lặp đi lặp lại nhiều lần, vào nhiều lúc và ở nhiều nơi. Trong quá trình dạy học thực nghiệm, các thí nghiệm thường kích thích sự suy luận của học sinh, qua đó phát triển kiến thức và sự hiểu biết khoa học. Thực hành thí nghiệm được coi là nhân tố thúc đẩy, có ảnh hưởng tích cực tới quá trình học tập và thành công của học sinh. Thông qua thí nghiệm học sinh có thể tự mình giải thích được nội dung khoa học, đưa ra được nhiều câu trả lời, hình thành và phát triển kĩ năng, làm việc tập trung và chính xác. Học sinh học cách lập kế hoạch và lịch trình thí nghiệm, tổ chức thực hiện công việc, chuẩn bị nguyên vật liệu và dụng cụ thí nghiệm và phân công công việc trong nhóm, biết cách thu thập và ghi chép các kết quả thí nghiệm, mô tả và phân tích thí nghiệm, thảo luận trong nhóm và đi tới kết luận, qua đó tự rút ra bài học thành công, khó khăn và thất bại trong công việc. Có nhiều mức độ khác nhau về thí nghiệm trong môn Khoa học tự nhiên: “Thí nghiệm khởi đầu” nhằm giới thiệu nội dung bài học, gây hứng thú và thu hút học sinh;“Thí nghiệm thu nhận kiến thức” cung cấp cơ hội cho học sinh phát hiện vấn đề, có thể tự rút ra được các giả thuyết, từ đó hiểu và thu nhận được kiến thức; “Thí nghiệm củng cố kiến thức” nhằm giúp học sinh hiểu biết sâu hơn về công nghệ trong cuộc sống hàng ngày, kích thích sự sáng tạo, đòi hỏi khả năng giải thích, mở rộng kiến thức ở học sinh. Kích thích thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh. Phát triển sự tương tác giữa học sinh với học sinh, phối hợp giữa làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hoá. - Theo các định hướng chung đó giáo viên cần biết lựa chọn và biết phối hợp các phương pháp một cách khéo léo và linh hoạt phù hợp với nội dung của Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 2
  4. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum bài học, với trình độ của học sinh cần dẫn dắt học sinh từ kiến thức từ dễ đến khó và luôn tìm hiểu cái mới để lĩnh hội kiến thức mới đạt kết quả cao hơn. - Cần tạo không khí thoải mái cho lớp học, làm cho học sinh thích thú khi đến lớp, phải mong đợi đến tiết học môn khoa học tự nhiên phân môn hoá học. PHẦN II. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 1. Một số khái niệm về phương pháp dạy học liên quan: * Quan niệm về phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học. * Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp dạy học tích cực là cách dạy hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. “Phương pháp dạy học tích cực” đòi hỏi phát huy tính tích cực của cả người dạy và người học. Thực chất phương pháp tích cực đòi hỏi người dạy phải phát huy tính tích cực chủ động của người học. 2.Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học môn khoa học tự nhiên 6 ở trường trung học cơ sở: Sử dụng thí nghiệm theo hướng tích cực là thí nghiệm cung cấp kiến thức, phương tiện để học sinh khai thác, tìm tòi theo phương pháp kiểm chứng, phương pháp nghiên cứu . Các cách sử dụng thí nghiệm: * Giải pháp 1: giúp học sinh tự làm thí nghiệm đơn giản tại nhà để kiểm nghiệm các giả thuyết dự đoán trong phương pháp nghiên cứu. * Giải pháp 2: giúp học sinh quan sát thí nghiệm để rút ra kết luận * Giải pháp 3: giúp học sinh làm và quan sát thí nghiệm theo nhóm cặp rút ra kiến thức bài học. II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ 1. Thuận lợi: - Nhìn chung học sinh tại trường TH – THCS Thắng Lợi có ý thức học tập. Đa số học sinh biết nghe lời, biết tìm tòi và học hỏi nên khi thầy cô dặn em chuẩn bị các dụng cụ, vật liệu học cách tiến hành thí nghiệm hoặc những thí nghiệm đơn giản các em đều mày mò làm và quan sát. Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 3
  5. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum - Đa số học sinh cũng được tập học nhóm từ lúc vào đầu năm học, học sinh ngoan biết nghe lời khi sắp xếp thì dễ dàng có tính tự giác học tập nên việc thảo luận nhóm hoặc tổ chức trò chơi cũng dễ dàng. 2. Khó khăn: Bước vào lớp 6, học sinh phải đối mặt với nhiều khó khăn do thay đổi về môi trường học tập, thầy cô, bạn bè. Năm học 2022 - 2023 cũng là năm học thứ 2 áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới với lớp 6, nhiều học sinh còn bỡ ngỡ đối với môn học, chưa biết cách chuẩn bị bài, chưa ham muốn đọc sách, xem nhẹ môn học dẫn đến nhiều em không có kĩ năng học bài và nắm vững kiến thức môn học. Kết quả thăm dò thái độ học sinh lớp 6 với hình thức học bình thường - Tháng 9/2022 ĐỀ KIỂM TRA 15 PHÚT: Câu 1: (5.0 điểm) Hãy nêu một số quy định an toàn trong phòng thực hành? Câu 2: (5.0 điểm) Cho dụng cụ: đũa thuỷ tinh, cốc thuỷ tinh, giấy lọc, đèn cồn, bát sứ, phễu thuỷ tinh. Hoá chất: nước, muối ăn, cát. Em hãy đưa ra cách để tách riêng hỗn hợp muối ăn và cát và giải thích cách làm. Số học sinh có Số học sinh có Tổng Ghi số thái độ hào thái độ bình Ít quan tâm Tên lớp chú học hứng thường sinh Tổng số % Tổng số % Tổng số % 6A 37 11 29,7 17 45,9 9 24,3 6B 39 8 20,5 10 25,6 21 53,8 Kết quả khảo sát chất lượng bộ môn Khoa học tự nhiên lớp 6 Tháng 9/2022 Trung Ghi Tổng Giỏi Khá Yếu Kém Tên số bình chú lớp học Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng % % % % % sinh số số số số số 6A 37 3 8,8 9 23.7 18 47.4 7 21.1 0 6B 39 1 2,6 7 17,9 19 48,7 11 28,2 1 2,6 Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 4
  6. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum III.MÔ TẢ, PHÂN TÍCH GIẢI PHÁP VỀ: Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum”. * Giải pháp 1: giúp học sinh tự làm thí nghiệm đơn giản tại nhà để vận dụng vào thực tế và để kiểm nghiệm các giả thuyết dự đoán trong phương pháp nghiên cứu. - Giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà làm” nước hàng” tại nhà nhờ sự trợ giúp của phụ huynh bằng cách đun đường đến khi chuyển màu cánh gián rồi cho nước vào. 1. Nguyên liệu Đường trắng 2. Dụng cụ Chảo nhỏ, đũa 3. Cách làm Làm lửa vừa, cho ba muỗng đường vào nồi và đảo đều cho đến khi đường chuyển thành màu vàng cánh gián rồi cho thêm chén nước vào đến khi sôi thì tắt bếp, ta được chén nước hàng dùng để kho thịt, cá. 4. Kết quả Đây là sản phẩm của học sinh làm ở nhà: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu tính chất của chất tan trong dung dịch có khác với ban đầu không: Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 5
  7. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum 1.Chuẩn bị: 1 cốc, 1 thìa, muối ăn, nước tinh khiết 2.Tiến hành: Pha 3 – 5 thìa nhỏ muối ăn vào cốc đựng 20 ml nước ấm, khuấy đều. Nếm thử vị dung dịch thu được. Nhỏ vài giọt dung dịch lên thìa inox, hơ trên lửa đến khi nước bay hơi hết. Để nguội quan sát màu sắc và nếm thử vị của chất rắn thu được trên thìa. 3. Kết quả: Đây là sản phẩm học sinh làm ở nhà: * Kết quả sau khi thực hiện giải pháp 1: Học sinh sẽ không còn bỡ ngỡ khi tiếp thu kiến thức về tính chất của đường và muối ăn, tự giác thực hiện thí nghiệm ở nhà, học sinh hiểu rõ bản chất vấn đề và rút ra được kết luận của thí nghiệm đó. Tạo động lực cho học sinh cố gắng thể hiện năng lực của bản thân mình trong mắt bạn bè, thầy cô. Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 6
  8. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum * Giải pháp 2 giúp học sinh quan sát thí nghiệm để rút ra kết luận: - Đối với một số thí nghiệm phức tạp học sinh không thể làm tại nhà hoặc trên lớp. - Quan sát thí nghiệm trên kênh VTL qua ứng dụng CNTT là vấn đề cấp thiết giáo viên sử dụng đoạn video thí nghiệm nhằm rèn luyện kĩ năng phân tích so sánh, nghiên cứu tìm tòi kiến thức phát huy tính tích cực của học sinh. - Kỹ năng ứng dụng thí nghiệm ảo, phần mềm thí nghiệm ảo là phương tiện đa công cụ mô phỏng thí nghiệm và hiện tượng sinh học xảy ra. - Để sử dụng thí nghiệm VTL cần thực hiện các công việc sau: xác định thí nghiệm trong tiến trình bài học, tình huống xuất hiện thí nghiệm , xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với nội dung thí nghiệm, yêu cầu học sinh đọc trước bài và tìm hiểu thí nghiệm VÍ DỤ: BÀI 11: OXYGEN – KHÔNG KHÍ I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức Sau bài học, HS sẽ: - Nêu được một số tính chất vật lí của oxygen: trạng thái, màu sắc, tính tan. - Nêu được tầm quan trọng của oxygen đối với sự sống, sự cháy và quá trình đốt cháy nhiên liệu. - Tìm được ví dụ về vai trò của oxygen trong đời sống. - Nêu được thành phần của không khí: oxygen, nitrogen, carbon dioxide, hơi nước và các khí khác. - Trình bày được vai trò của không khí đối với tự nhiên. - Trình bày được sự ô nhiễm không khí bao gồm: các chất gây ô nhiễm, nguồn gây ô nhiễm không khí, biểu hiện của không khí bị ô nhiễm. - Nêu được một số biện pháp bảo vệ môi trường không khí. - Tiến hành được thí nghiệm đơn giản để xác định thành phần phần trăm thể tích của Oxygen trong không khí 2. Năng lực - Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp. - Năng lực riêng: • Năng lực sử dụng ngôn ngữ hoá học • Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống. • Năng lực thực hành Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 7
  9. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum • Năng lực trao đổi thông tin. • Năng lực cá nhân của HS. 3. Phẩm chất - Nhân ái, khoan dung; Trung thực, tự trọng, chí công vô tư; Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó; Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên. II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU 1. Đối với giáo viên: - Hình ảnh, tư liệu cho thấy oxygen có ở khắp nơi trên Trái Đất, lọ đựng khí oxygen. - Hình ảnh, tư liệu về vai trò của oxygen: sự cháy, sự hô hấp... - Video VTL thí nghiệm xác định thành phần về thể tích Oxygen trong không khí 2. Đối với học sinh: - Vở ghi, sgk, dụng cụ học tập III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC A. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG a. Mục tiêu: Tạo tâm thế hứng thú cho học sinh và từng bước làm quen bài học. b. Nội dung: GV trình bày vấn đề, HS quan sát thực hiện yêu cầu của GV c. Sản phẩm học tập: HS lắng nghe và tiếp thu kiến thức d. Tổ chức thực hiện: - GV yêu cầu HS thảo luận trả lời câu hỏi: Em đã biết không khí xung quanh ta cần thiết cho sự sống và sự cháy. Em có thể giải thích tại sao con người phải sử dụng bình dưỡng khí khi lặn dưới nước, khi lên núi cao hoặc khi du hành tới Mặt Trăng không? - HS thảo luận trả lời câu hỏi - GV gợi ý để HS thấy trên các hành tinh khác không có oxygen hay nếu có thì hàm lượng oxygen không thích hợp để cho sự sống tồn tại. Từ đó, HS bắt đầu hiểu được vai trò quan trọng của oxygen đối với sự sống. B. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC Hoạt động 3: Tìm hiểu về thành phần của không khí III.2 Xác định thành phần thể tích oxygen trong không khí Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 8
  10. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum a. Mục tiêu: GV chiếu thí nghiệm xác định thành phần không khí cho học sinh quan sát để rút ra kết luận b. Nội dung: Đọc thông tin sách giáo khoa, nghe giáo viên hướng dẫn, học sinh thảo luận, trao đổi. c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của học sinh d. Tổ chức thực hiện: Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập - GV cho HS quan sát thí nghiệm ảo về xác định thành phần thể tích oxygen trong không khí + Dụng cụ: 1 chậu chứa nước vôi trong hoặc dung dịch kiềm loãng, 1 cây nến gắn vào đễ nhựa và 1 cốc thủy tinh hình trụ có vạch chia. + Tiến hành: Đặt cây nến gắn trên đế nhựa vào chậu chứa nước vôi trong và châm lửa cho nến cháy. Úp cốc thủy tinh lên nến. Oxygen trong không khí có trong cốc giúp duy trì sự cháy và sẽ hết dần. Chất lỏng dần dâng lên chiếm chỗ oxygen đã cháy. Sau khi nến tắt, quan sát vị trí cuối cùng của chất lỏng dâng lên trong cốc Chúng ta có thể thấy nến cháy trong oxygen sinh ra khí carbon dioxide và hơi nước, hơi nước sẽ ngưng tụ lại còn khí carbon dioxide sẽ bị dung dịch kiềm hấp thụ hết, vậy từ thí nghiệm các em hãy trả lời cho cô một số câu hỏi sau: 1.Khi nào em biết oxygen trong cốc đã hết? 2.Chiều cao cột nước dâng lên bằng bao nhiêu phần chiều cao của cốc? Từ đó suy ra Oxygen chiếm khoảng bao nhiêu phần trong không khí? Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập + HS quan sát thí nghiệm thảo luận trả lời câu hỏi, viết kết quả vào phiếu + GV quan sát, giúp đỡ HS nếu cần: NỘI DUNG PHIẾUHỌC TẬP: NHÓM: TÊN CÁC BẠN TRONG NHÓM: Em hãy quan sát thí nghiệm và trả lời câu hỏi sau: 1.Khi nào em biết oxygen trong cốc đã hết? 2.Chiều cao cột nước dâng lên bằng bao nhiêu phần chiều cao của cốc? Từ đó suy ra Oxygen chiếm khoảng bao nhiêu phần trong không khí? Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 9
  11. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận + Đại diện nhóm báo cáo kết quả. + Nhóm khác nhận xét. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập + GV đánh giá, nhận xét. Chốt kiến thức Kết quả thí nghiệm: Khi cây nến tắt đi thì lúc đó oxygen trong cốc đã hết. Khi nến tắt thì chiều cao mực nước dâng lên chiếm 1/5 vạch của cốc Từ đó suy ra oxygen chiếm 1/5 thành phần không khí. * Kết quả sau khi thực hiện giải pháp 2: Qua quan sát thí nghiệm VTL mỗi học sinh đều đóng góp ý kiến của cá nhân vào những nội dung có liên quan đến thí nghiệm, làm việc tự giác, tự hoàn thiện về nội dung thảo luận của nhóm mình đồng thời ghi nhớ khắc sâu kiến thức một cách rõ ràng. Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp học cách chia sẻ kinh nghiệm và học tập lẫn nhau. * Giải pháp 3 giúp học sinh làm và quan sát thí nghiệm theo nhóm cặp rút ra kiến thức bài học. Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 10
  12. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum Đối với một số thí nghiệm đơn giản, giáo viên cho học sinh làm tại lớp, giáo viên hướng dẫn học sinh mang dụng cụ, nguyên vật liệu với số lượng phù hợp đến lớp để tiến hành thí nghiệm theo nhóm cặp. Giáo viên yêu cầu học sinh đọc trước bài ở nhà Đến lớp kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh: Dụng cụ: 3 cái cốc, muỗng, bột sắn dây hoặc bột mì hoặc tinh bột nghệ, đường, dầu ăn, chai đựng nước VÍ DỤ: CHƯƠNG IV: HỖN HỢP. TÁCH CHẤT RA KHỎI HỖN HỢP BÀI 16: HỖN HỢP CÁC CHẤT I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức Sau bài học, HS sẽ: - Nhận biết được vật thể xung quanh ta có thế làm từ một chất duy nhất (chất tinh khiết) hoặc hai hay nhiều chất khác nhau (hỗn hợp). - Nhận biết được các tính chất cơ bản của chất không thay đổi khi tham gia vào hỗn hợp; các tính chất riêng, thành phần của hỗn hợp sẽ tạo ra tính chất chung của hỗn hợp. - Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất của dung môi và chất tan, dung dịch thường trong suốt. Huyền phù, nhũ tương là các hỗn hợp không đồng nhất, chúng thường không trong suốt. - Quan sát một số hiện tượng trong thực tiễn để phân biệt được dung dịch với huyển phù, nhũ tương. - Tìm được ví dụ về chất tinh khiết, nêu tính chất cơ bản của chất đó. - Tìm được ví dụ về hỗn hợp, kể tên các chất có trong hỗn hợp đó. - Tìm được ví dụ về dung dịch, xác định chất tan và dung môi trong dung dịch đó. - Tìm được ví dụ về huyển phù, nhũ tương; kể tên các chất có trong hỗn hợp đó. - Nhận biết được chất tan trong dung dịch có thể là chất rắn, chất lỏng hoặc chất khí. - Nhận biết được các chất khác nhau có khả năng hoà tan khác nhau. - Tìm được ví dụ về sự hoà tan chất khí trong thực tế. - Phân biệt được khả năng hoà tan của các chất rắn trong nước. - Đánh giá được ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự hoà tan chất rắn và chất khí, thông qua quan sát các hiện tượng tự nhiên. 2. Năng lực Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 11
  13. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum - Năng lực chung: nhận thức KHTN, tìm hiểu tự nhiên và vận dụng kiến thức, năng lực đã học - Năng lực riêng: • Năng lực nghiên cứu khoa học • Năng lực phương pháp thực nghiệm. • Năng lực trao đổi thông tin. • Năng lực cá nhân của HS. 3. Phẩm chất: Nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU 1. Đối với giáo viên: đường, bột sắn dây, dầu ăn, nước, cốc, muỗng, phiếu học tập. 2. Đối với học sinh: đường, bột sắn dây hoặc bột mì hoặc tinh bột nghệ dầu ăn, nước, cốc, muỗng, phiếu học tập. III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC A. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG a. Mục tiêu: Tạo tâm thế hứng thú cho học sinh và từng bước làm quen bài học. b. Nội dung: GV trình bày vấn đề, HS trả lời câu hỏi c. Sản phẩm học tập: HS lắng nghe và tiếp thu kiến thức d. Tổ chức thực hiện: Gv tổ chức trò chơi cho HS như: quan sát xung quanh, kể tên các đồ vật, kể tên vật thể trong bức tranh và chất trong vật thể mà em biết, kể tên các loại nước uống và khả năng hòa tan của một số chất mà em biết HS trả lời câu hỏi: Nước biển có chứa những chất gì mà lại có vị mặn? Dẫn dắt: Các vật thể tạo thành từ các chất với màu sắc, thể, tính chất, rất đa dạng. Tuy nhiên có thể phân loại chúng được không? Tính chất của hỗn hợp có phụ thuộc vào các chất thành phần không? Bài học ngày hôm nay chúng ta sẽ đi tìm hiểu về hỗn hợp các chất . B. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC Hoạt động 2: Tìm hiểu về dung dịch a. Mục tiêu: Phân biệt được hỗn hợp đồng nhất, không đồng nhất, nắm được khái niệm dung dịch. b. Nội dung: HS hoạt động theo sự hướng dẫn của GV và phân công trong nhóm, quan sát được hiện tượng, ghi chép và nêu nhận xét chính xác c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của học sinh Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 12
  14. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum d. Tổ chức thực hiện: Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập GV cùng hs thực hành thí nghiệm hòa tan đường vào nước và quan sát và trả lời hai câu hỏi sau: 1.Khi hòa tan đường vào nước, đường có bị biến đổi thành chất khác không? Qua quan sát cốc nước đường hãy chỉ ra đâu là chất tan, dung môi, dung dịch? 2.Giữa cốc nước đường và cốc nước cam giáo viên chuẩn bị sẵn, hỗn hợp nào là đồng nhất và không đồng nhất? Bước 2:HS thực hiện nhiệm vụ học tập: Học sinh làm thí nghiệm và thảo luận trả lời hai câu hỏi trong phiếu học tập: Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận 1.Khi hòa tan đường vào nước, đường không bị biến đổi thành chất khác, nó chỉ chia nhỏ thành các hạt mà mắt ta không nhìn thấy được, trộn lẫn vào trong nước. Nếm nước đường, ta thấy vị ngọt của đường. Để cốc nước đường lâu ngày, nước bay hơi đi, đường lắng một phần thành chất rắn ở đáy cốc Qua quan sát cốc nước đường thì chất tan là đường, dung môi là nước, dung dịch là nước đường. Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất của dung môi và chất tan. 2.Hỗn hợp đồng nhất: nước đường, hỗn hợp không đồng nhất: nước cam. Vậy cốc nước cam không phải dung dịch. Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 13
  15. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập + GV đánh giá, nhận xét. Chốt kiến thức Dung dịch là một hỗn hợp đồng nhất của dung môi và chất tan. Hoạt động 3: Huyền phù và nhũ tương a. Mục tiêu: Giúp học sinh phân biệt được dung dịch với huyền phù, nêu được khái niệm về nhũ tương. Cho ví dụ về huyền phù, nhũ tương. b. Nội dung: Đọc thông tin sách giáo khoa, nghe giáo viên hướng dẫn, học sinh thảo luận, trao đổi. c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của học sinh d. Tổ chức thực hiện: Bước 1: Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ học tập Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 14
  16. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum GV gợi mở cho học sinh thấy nước cũng tạo hỗn hợp không trong suốt với nhiều chất khác như sữa, nước bột sắn dây hoặc nước tinh bột nghệ hoặc nước bột mì, nước ép hoa quả,.. Chúng có phải là dung dịch không? Để trả lời câu hỏi giáo viên yêu cầu học sinh làm thí nghiệm: 1.Chuẩn bị: cốc nước, bột sắn dây hoặc bột mì hoặc tinh bột nghệ Tiến hành: Cho một thìa bột sắn dây vào cốc nước khuấy đều và để yên 2- 3 phút, quan sát hiện tượng. Sau 30 phút ở cốc có sự thay đổi nào không? 2.Chuẩn bị: 1 cốc nước, dầu ăn. Tiến hành: Ta sẽ rót nước lọc ra cốc trước và sau đó đổ một lượng vừa đủ dầu ăn vào cốc nước đó. Quan sát hiện tượng. Sau khi khuấy đều hỗn hợp nước – dầu ăn lên, nhận xét hiện tượng? Bước 2:HS thực hiện nhiệm vụ học tập: Học sinh thực hiện thí nghiệm và trả lời câu hỏi vào phiếu học tập theo nhóm: Ở cốc 1: sau 30 phút có sự thay đổi nào không? Ở cốc 2: Quan sát hiện tượng sau khi cho nước và dầu ăn vào cốc, nhận xét hiện tượng sau khi khuấy đều hỗn hợp nước và dầu ăn lên. Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận: Học sinh báo cáo kết quả thí nghiệm 1. Ở cốc 1 cốc bột sắn dây hoặc tinh bột nghệ hoặc nước bột mì ta thấy có rất nhiều hạt nhỏ li ti và bột sắn lắng xuống đáy cốc. 2. Ở cốc 2: Quan sát hiện tượng sau khi khuấy đều hỗn hợp nước – dầu ăn lên, ta sẽ thấy một thứ chất lỏng màu trắng đục, không còn nhìn thấy rõ đâu là dầu ăn, đâu là nước như trước khi khuấy nữa. Hỗn hợp lúc này được gọi là nhũ Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 15
  17. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum tương. Cốc này không thể gọi là dung dịch được, bởi nó không phải là hỗn hợp đồng nhất. Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 16
  18. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập Qua thí nghiệm trên rút ra kết luận: Huyền phù gồm các hạt chất rắn lơ lửng trong chất lỏng. • Ví dụ nước phù sa, nước bột sắn dây, nước tinh bột nghệ... Nhũ tương gồm các giọt chất lỏng lơ lửng trong một chất lỏng khác. • Ví dụ: Sữa, hỗn hợp dầu ăn, và nước ( khí được khuấy trộn,...) * Kết quả sau khi thực hiện biện pháp 3: Học sinh học được kỹ năng làm thí nghiệm, từ thí nghiệm rút ra kiến thức của nội dung bài học, cách tiếp cận với nhiều giải pháp khác nhau. Rèn kĩ năng suy nghĩ , quyết định và giải quyết vấn đề. Phối hợp giữa làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hoá. Học sinh thuộc bài tại lớp. Đặc biệt là có tác dụng kích thích học sinh làm việc tích cực hơn, chủ động hơn. Đặc biệt hình thành năng lực phòng thí nghiệm của học sinh. IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: Qua việc sử dụng phương pháp trên, tôi thấy việc dạy học khoa học tự nhiên theo phân môn hoá học theo hướng tích cực đem lại hiệu quả khá cao, học sinh hứng thú say mê học tập. Bởi vì dạy học hoá học không chỉ là quá trình dạy truyền thụ kiến thức, thông báo thông tin kiến thức cho học sinh mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt động tích cực của học sinh để đạt các mục đích cụ thể của mỗi bài, chương cụ thể. Trong một bài dạy không thể chỉ dùng một phương pháp duy nhất là có thể phát huy tính tích cực của học sinh. Nhưng kết hợp nhiều phương pháp mà không hợp lý sẽ không đạt được kết quả mong muốn. Việc sử dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học tích cực trong một giờ dạy một cách thích hợp sẽ đem lại hiệu quả mong muốn. Học sinh không chỉ hứng thú với tiết học, tiếp thu bài nhanh hơn mà còn có cơ hội thể hiện sự hiểu biết, khả năng tư duy, nói trước đám đông phát triển kỹ năng làm thí nghiệm. Tôi bắt đầu đi vào thực nghiệm những sáng kiến trên, vừa làm tôi vừa đánh giá rút kinh nghiệm và vận dụng linh hoạt. Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 17
  19. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum Sau một thời gian áp dụng một số kinh nghiệm:”Sử dụng thí nhiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum”. Học sinh chúng ta sẽ có thể sáng tạo và tự tin nếu được thầy cô khuyến khích. Thực vậy, khi áp dụng biện pháp đổi mới học sinh chủ động say mê tìm kiếm kiến thức thể hiện khi cô giao việc tại nhà, tạo được sự lôi cuốn trong tiết học, và phát huy được hết sức sáng tạo và tưởng tượng của học sinh. Một số học sinh lười chuẩn bị bài cũng không còn nhiều nữa điều đó giúp cho mỗi em học sinh kể cả học sinh không chăm ngày càng yêu thích môn học hơn. Qua việc thực hiện một số giải pháp trên thấy được rằng các em học sinh hào hứng hơn trong giờ học, chăm chú theo dõi nội dung của tiết học để chất vấn bạn. Và tinh thần hợp tác trong công việc chuẩn bị khắc sâu kiến thức hơn và hiểu được môn học có rất nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống. Qua đó các em biết quan sát, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và cảm thấy môn học không quá khó như các bạn thường nghĩ. Thông qua chất lượng học tập bộ môn Khoa học tự nhiên lớp 6 được nâng lên, nhiều học sinh hứng thú học tập, học sinh hiểu bài, nắm bản chất vấn đề, chất lượng bộ môn và thái độ tích cực trong học tập của học sinh được nâng lên rõ rệt, cụ thể như sau: Kết quả thăm dò thái độ học sinh lớp 6 sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. Số học sinh có Tổng Số học sinh có Ghi thái độ bình Ít quan tâm Tên số thái độ hào hứng chú lớp học thường sinh Tổng số % Tổng số % Tổng số % 6A 37 11 29,7 17 45,9 9 24,3 6B 39 8 20,5 10 25,6 21 53,8 ĐỀ KIỂM TRA 15 PHÚT: Câu 1:(5 điểm) Cho những dụng cụ và nguyên liệu sau: một chai nhựa khoảng 500ml, dầu ăn, phễu chiết, cốc thuỷ tinh. Em hãy nêu cách tiến hành tách dầu ăn ra khỏi nước? Câu 2: (5 điểm) Để hoà tan được nhiều muối ăn hơn, ta phải pha muối vào nước nóng hay nước lạnh, vì sao? Kết quả học tập bộ môn sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Tên Tổng số Ghi Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng lớp học sinh % % % % % chú số số số số số 6A 37 12 32,4 12 32,4 13 35,1 0 0 0 0 6B 39 8 20,5 24 61,5 7 17,9 0 0 0 0 Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 18
  20. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum Kết quả so sánh trước và sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: LỚP 6A (TỔNG SỐ HỌC SINH: 37) TRUNG Nội dung GIỎI KHÁ YẾU KÉM BÌNH so sánh Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng % % % % % số số số số số Trước khi 3 8,1 9 24,3 18 48,6 7 18,9 0 áp dụng Sau khi áp 37 12 32,4 12 32,4 13 35,1 0 0 0 dụng LỚP 6B (TỔNG SỐ HỌC SINH: 39) TRUNG Nội dung GIỎI KHÁ YẾU KÉM BÌNH so sánh Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng % % % % % số số số số số Trước khi 1 2,6 7 17,9 19 48,7 11 28,2 1 2,6 áp dụng Sau khi áp 20, 8 15 38,5 16 41 0 0 0 0 dụng 5 Ở lớp 6A, 6B sau khi áp dụng giải pháp số học sinh yếu giảm đáng kể qua đó số học sinh giỏi, khá, trung bình được tăng lên. Như vậy việc áp dụng sáng kiến:”Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum” tôi thấy đã có kết quả tốt hơn, chất lượng được nâng lên, tỉ lệ học sinh yếu giảm đáng kể, không có học sinh kém, học sinh đã quen dần cách học và rất hào hứng học môn Khoa học tự nhiên phân môn hoá học. Nếu cũng những bài học này mà sử dụng phương pháp khác thì chắc chắn kết quả sẽ không được như mong muốn. PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I.KẾT LUẬN: Việc áp dụng sáng kiến: “Sử dụng thí nghiệm trong dạy học bộ môn khoa học tự nhiên 6 để phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh ở trường TH – THCS Thắng Lợi – Thành Phố Kon Tum” là một kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi đã thực hiện trong thời gian qua về việc giảng dạy ở trường trung học cơ sở và đã đem lại kết quả như mong muốn, đã phát huy tính tích cực học tập của học sinh để học tập bộ môn Khoa học tự nhiên phân môn hoá học, giúp học sinh chủ động phát hiện tìm tòi tri thức, rèn cho học sinh kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng làm thí nghiệm, kỹ năng trình bày. Thực tế nhận thấy khi học sinh được tham gia tiết thực hành, các em rất hứng thú. Khi tiến hành thực hành học sinh được đứng ở vị trí của nhà nghiên cứu, các em đưa ra phán đoán, nhận xét, kết luận qua đó các em nắm được cả phương pháp nghiên cứu khoa học bộ môn, làm chủ được kiến thức. Tạo nhóm ngẫu nhiên khắc phục được tình trạng nhàm chán, rập khuôn nhiệm vụ, ỷ lại Tác giả: Văn Trương Ngọc Hạnh – Giáo viên trường TH – THCS Thắng Lợi 19