SKKN Phát huy năng lực tự học của học sinh trong môn Ngữ văn Lớp 6 - Trường Tiểu học - THCS Thắng Lợi Thành phố Kon Tum

pdf 17 trang tieumy 14/10/2025 790
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Phát huy năng lực tự học của học sinh trong môn Ngữ văn Lớp 6 - Trường Tiểu học - THCS Thắng Lợi Thành phố Kon Tum", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_phat_huy_nang_luc_tu_hoc_cua_hoc_sinh_trong_mon_ngu_van.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Phát huy năng lực tự học của học sinh trong môn Ngữ văn Lớp 6 - Trường Tiểu học - THCS Thắng Lợi Thành phố Kon Tum

  1. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ KON TUM TRƢỜNG TH VÀ THCS THẮNG LỢI ----------  ---------- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: PHÁT HUY NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG MÔN NGỮ VĂN LỚP 6 - TRƢỜNG TH VÀ THCS THẮNG LỢI - THÀNH PHỐ KON TUM Lĩnh vực/Môn: Ngữ văn Tên tác giả: PHẠM THỊ MỸ LOAN GV môn: Ngữ văn Đơn vị công tác: Trƣờng TH và THCS Thắng Lợi Thành phố Kon Tum, tháng 02/2023 1
  2. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” PHỤ LỤC Mục Nội dung Trang PHỤ LỤC 02 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 03 I PHẦN MỞ ĐẦU 04 1 Lý do chọn đề tài 04 2 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát và thực nghiệm 05 3 Phương pháp nghiên cứu 05 4 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 05 II PHẦN NỘI DUNG 05 1 Cơ sở lý luận, thực tiễn 05 2 Thực trạng của vấn đề 06 3 Các giải pháp đã thực hiện 8 Giải pháp 1: Giáo viên phối hợp phụ huynh hướng dẫn HS tự học ở 3.1 8 nhà. 3.2 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh tự học thông qua sơ đồ tư duy. 9 3.3 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh tự học thông qua phiếu học tập. 11 4 Hiệu quả của các giải pháp 12 III PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 13 1 Kết luận 13 2 Đề xuất 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15 2
  3. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Chữ viết đầy đủ TH và THCS Tiểu học và Trung học cơ sở GD & ĐT Giáo dục và đào tạo TP Thành phố DTTS Dân tộc thiểu số HS Học sinh GV Giáo viên SGK Sách giáo khoa SĐTD Sơ đồ tư duy 3
  4. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” I/ PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn vấn đề nghiên cứu. Quá trình dạy học là một quá trình phức tạp, có sự tác động đa chiều. Việc học không đơn thuần là học ở trường mà học ở nhiều nơi như học ở nhà, ở sách vở, học ở lẫn nhau... N.Gupxcai A đã nói: “Không những phải học ở sách mà còn phải học ở cuộc sống nữa”. Trong thời đại 4.0, đa số giáo viên đều có tinh thần tự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh. Trong những năm qua sự nghiệp giáo dục và đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, đầu tư và xem giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Trong chương trình giáo dục, một trong những bộ môn có vai trò quyết định hình thành nên nhân cách của một con người đó là Ngữ văn. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT về Ban hành chương trình Giáo dục phổ thông mới. Chương trình giáo dục tổng thể môn Ngữ văn được xây dựng theo hướng mở, lấy các kỹ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm định hướng chính của cả ba cấp học. Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời. Xuất phát từ thực tế trên, việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn lớp 6 thuộc Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Vậy làm thế nào để giảng dạy Ngữ văn thực sự đạt hiệu quả đáp ứng với mục tiêu đổi mới của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là điều mà tôi luôn băn khoăn, trăn trở. Để tháo gỡ những vướng mắc, xoá đi mặc cảm ngại học văn của một số học sinh. Và giúp cho các em học sinh có được những năng lực cơ bản để xây dựng một bài văn hay, tạo cho các em dần dần có tình yêu với môn văn học đồng thời phát huy tính tích cực chủ động, tìm tòi của mình trong đọc hiểu, viết, nói và nghe. Vì vậy việc phát huy năng lực tự học của học sinh là rất thiết thực cho học sinh lớp 6. Là giáo viên được phân công giảng dạy môn Ngữ văn 6 ở trường TH - THCS Thắng Lợi, tôi nhận thấy việc hướng dẫn học sinh tự mình tìm tòi, mở rộng kiến thức thông qua việc tự tìm hiểu bài mới ở nhà của các em là điều hết sức cần thiết, giúp các em tự phát huy năng lực tự học của mình, đồng thời giúp các em sẵn sàng thực hiện tốt nhiệm vụ học tập trên lớp, cũng như vận dụng việc học vào cuộc sống tốt hơn. 4
  5. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” Xuất phát từ tình hình thực tế như đã trình bày ở trên, tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trƣờng TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh (HS). 2/ Đối tƣợng nghiên cứu, đối tƣợng khảo sát thực nghiệm: 2.1. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 6 trường TH và THCS Thắng Lợi, năm học 2021 – 2022 và năm học 2022 - 2023. 2.2. Đối tượng khảo sát thực nghiệm: Học sinh khối 6 trường TH và THCS Thắng Lợi, năm học 2021 – 2022 và năm học 2022 - 2023. 3/ Phƣơng pháp nghiên cứu: 3.1. Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các văn bản quy định, hướng dẫn về phương pháp dạy học đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh. 3.2. Nghiên cứu thực tiễn: Dùng phiếu điều tra, khảo sát, so sánh, phân tích thực trạng. 3.3. Phương pháp bổ trợ: Thống kê, xử lí số liệu.... 4/ Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: 4.1. Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài, nội dung nghiên cứu dừng lại ở giải pháp phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi 4.2. Kế hoạch nghiên cứu: Giải pháp được thực hiện trong phạm vi đang giảng dạy môn Ngữ văn lớp 6 BC năm học 2021 - 2022 (Từ tháng 9 năm 2021 đến hết tháng 5 năm 2022) và tiếp tục được bổ sung trong năm học 2022 - 2023, chính thức hoàn thiện vào tháng 02 năm 2023 tại trường TH và THCS Thắng Lợi. II/ PHẦN NỘI DUNG. 1/ Cơ sở về lý luận, thực tiễn: Khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”. Theo tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998. Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt 5
  6. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” động tự thân của cá nhân đó. Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi học sinh phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc. Việc tự học tích cực ở nhà của học sinh THCS là chính tự thân học sinh lĩnh hội tri thức thông qua kiến thức trên lớp, và ôn luyện kiến thức đó ở nhà một cách khoa học, chất lượng, đồng thời làm bài tập hay áp dụng kiến thức đã học để thực hành trong thực tế. Tự tìm tòi và phát huy năng lực của chính mình một cách thường xuyên. Trước thực trạng đổi mới căn bản, toàn diện của Ngành giáo dục đòi hỏi học sinh không chỉ được trang bị kiến thức mà còn phải bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, tính năng động, óc tư duy sáng tạo, tức là đào tạo những con người không chỉ biết tiếp thu kiến thức một cách thụ động mà còn phải có năng lực hành động. Bởi vậy, việc hướng dẫn giao nhiệm vụ cho HS về nhà tự học tự nghiên cứu bài mới nhằm phát triển năng lực tự học của HS là thực sự cần thiết, giúp học sinh tự tin hơn khi học trên lớp, khi trao đổi trình bày với thầy cô và bạn bè giúp tiết học sôi nổi và hiệu quả. Qua nhiều năm giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy: học sinh sẽ thấy hứng thú và dễ dàng ghi nhớ bài mới tốt hơn nếu các em có sự nghiên cứu bài mới trước ở nhà và giáo viên luôn có định hướng về bài mới cuối mỗi tiết học sẽ giúp các em biết được nhiệm vụ ở nhà của mình là gì? Từ đó hình thành cho các em những năng lực tự học, tự nghiên cứu, xử lý thông tin SGK, ... 2/ Thực trạng vấn đề nghiên cứu: 2.1. Thuận lợi: Ban giám hiệu nhiệt huyết, tận tâm trong các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học; luôn động viên tinh thần cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để giáo viên thực hiện nhiệm vụ, đầu tư cho công tác giảng dạy. Hầu hết các giáo viên nhiệt tình, tâm huyết, yêu nghề, mến trẻ, có kỹ năng sư phạm, có sự đầu tư cao cũng như biết cách quan sát và nhìn nhận đúng năng lực học sinh. Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6 mới góp phần thay đổi cách tiếp cận; chú trọng hình thành phẩm chất, năng lực từ đó phát huy được tinh thần tự học, gợi sự sáng tạo của học sinh từ đó nâng cao chất lượng bộ môn. Chương trình Ngữ văn mới không đặt nặng về kiến thức mà ở đây học sinh có thể tự mình tham gia tích cực vào quá trình học tập, tự làm chủ bản thân, không bị áp đặt. Chương trình mới chú trọng đến quá trình tự học, tự tìm tòi tiếp cận tri thức của học sinh. Từ đó học sinh có thể phát huy được các năng lực sở trường của mình trong quá trình học tập. Một số HS ngoan hiền, có tinh thần trong học tập, 6
  7. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” chịu khó học hỏi. Một số gia đình có điều kiện nên các em có thể tự học, tự tìm hiểu qua mạng internet. Cơ sở vật chất tương đối đảm bảo cho việc dạy và học, hầu hết các phòng được lắp ti vi, .... nên giáo viên và học sinh chủ động hơn trong quá trình dạy và học. 2.2. Khó khăn. Bước sang lớp 6, việc học môn Ngữ văn lớp 6 sẽ hoàn toàn khác xa so với bậc Tiểu học. Bởi yêu cầu về kiến thức, trình độ, cách tiếp cận cũng như kĩ năng làm bài sẽ được nâng lên một tầm cao mới. Vì vậy các em gặp không ít khó khăn nhất là trong việc chuẩn bị bài, cách học bộ môn như thế nào để đáp ứng mục tiêu của chương trình. Đa số học sinh khối 6 của trường thuộc gia đình thuần nông, tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm hơn 40% nên việc trang bị tài liệu, phương tiện phục vụ cho học tập còn hạn chế. Một số học sinh không có bất kì một tài liệu học tập nào ngoài sách giáo khoa (SGK). Hầu hết các em ít chú ý lời dặn dò của GV sau mỗi tiết học. Các em không hề chú tâm đến việc chuẩn bị bài mới ở nhà mà xem đó là việc không cần thiết. Học sinh còn ngại nói, ngại phát biểu dẫn đến rụt rè, thụ động trong giờ học, ít tích cực phát biểu xây dựng bài. Trong các tiết dạy, hầu hết giáo viên chưa chú trọng kỹ đến việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới ở nhà. Nhiều phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trong của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Đa số phụ huynh làm nông nên việc phối hợp với giáo viên, nhà trường chưa kịp thời và đồng bộ; chưa hướng dẫn các em tự học, tự khám phá kiến thức còn giao phó hết cho giáo viên. Phụ huynh có trang bị nhưng không kiểm soát việc sử dụng các thiết bị học tập dẫn đến các em sử dụng vào mục đích khác. Đầu năm học 2021 – 2022, tôi cũng đã tiến hành khảo sát trên 2 lớp 6B,6C mà tôi đang dạy xem ý thức chuẩn bị bài mới, xung phong phát biểu xây dựng bài của các em trong các tiết học như thế nào. Hình thức khảo sát: phiếu khảo sát kết hợp kiểm tra thông qua phiếu học tập và đánh giá quá trình hoạt động trên lớp của 2 lớp (6B, 6C). * Phiếu khảo sát: HS đánh dấu (x) vào cột mình chọn. Chuẩn bị bài ở nhà Hoạt động trên lớp Thường xuyên Thỉnh thoảng/không Thường xuyên Thỉnh thoảng/không chuẩn bị chuẩn bị phát biểu phát biểu 7
  8. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” * Kết quả như sau: Số HS có chuẩn bị bài Số HS phát biểu trong giờ học Lớp Sĩ số Số HS % Số HS % 6B 39 9 23,1% 7 17,9% 6C 39 6 15,4% 4 10,2% * Nhận xét: Kết quả khảo sát học sinh cho thấy tỉ lệ HS chuẩn bị bài ở nhà rất thấp, dẫn đến trong các tiết học các em hoạt động chưa tích cực. 3. Các giải pháp đã thực hiện. Qua năm học 2021-2022, và thực tế đang giảng dạy 3 lớp 6A,6B,6C năm học 2022 – 2023, tôi nhận thấy năng lực đọc hiểu, viết, nói và nghe của các em còn rất hạn chế. Tuy nhiên để đáp ứng CTGD tổng thể 2018 đòi hỏi HS phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực, trong đó rèn năng lực tự cho HS là rất quan trọng. Vì vậy tôi đưa ra một số giải pháp phát huy năng lực tự học để giúp các em học tốt hơn môn Ngữ văn. 3.1. Giải pháp 1: Giáo viên phối hợp phụ huynh hướng dẫn HS tự học ở nhà. - Cách thực hiện: Thông qua cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm, thông tin đến phụ huynh về CTGD phổ thông 2018, đặc biệt là sự đổi mới trong kiểm tra và đánh giá môn Ngữ văn, để phụ huynh thấy được tầm quan trọng của bộ môn. Từ đó phụ huynh kiểm tra, hướng dẫn HS tự học ở nhà cũng như thực hiện trên lớp. Để làm được điều đó phụ huynh cần: + Tạo không gian học tập cho các em (Ví dụ: Bàn ghế để ngồi học, tránh để vị trí ngồi học cùng khu sinh hoạt chung của gia đình, đối với HSDTTS, HS có hoàn cảnh khó khăn phụ huynh cần sắp xếp chỗ học sao cho phù hợp với điều kiện từng gia đình). + Dành thời gian cho con học tập. Trang bị sách vở, đồ dùng cần thiết cho HS. + HSDTTS, HS có hoàn cảnh khó khăn không đủ tài liệu học tập phụ huynh có thể cho các em học chung với các bạn có điều kiện hơn (để làm được điều này GV và các bậc phụ huynh phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau). + Dành thời gian quan tâm việc học của con (Ví dụ: Nắm được thời khóa biểu của con; ngồi vào bàn học cùng con. Vì có nhiều đối tượng học sinh ngồi vào học nhưng không học. Nhiều phụ huynh không biết thời khóa biểu của con, nên có nhiều em nói đi học nhưng thực tế đi chơi game, đi tắm sông, suối, ). + Dành thời gian liên lạc với giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên bộ môn để nắm bắt tình hình học tập con em trên lớp. 8
  9. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” + Thường xuyên kiểm tra sách vở của con em, quản lí việc sử dụng Internet. (Ví dụ: Có những em học nhiều môn trong một cuốn vở, việc ghi chép không khoa học hoặc sử dụng Internet không đúng mục đích,...). - Tác dụng: Giúp cho học sinh thấy được tầm quan trọng của việc học. Rèn cho HS phẩm chất chăm chỉ, tự giác, trách nhiệm trong học tập. 3.2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh tự học thông qua sơ đồ tư duy (SĐTD) 3.2.1. Sự dụng sơ đồ tư duy trong tự học ở nhà. - Học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân tùy vào hướng dẫn của GV. GV có thể tạo nhánh cấp một để gợi ý cho hs tiếp tục vẽ các nhánh ở cấp tiếp theo. HS làm theo nhóm thì mỗi nhóm sẽ chọn một HS khá, giỏi làm nhóm trưởng thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, điều hành và kiểm tra nhóm (kể cả ở nhà và trên lớp). Thay vì phải soạn bài vào vở HS vẽ trực tiếp trên giấy A0, rô ki hoặc tận dụng những tờ lịch cũ vẽ những kiến thức trọng tâm của bài học. - Cách thức thực hiện: Giáo viên hướng dẫn HS cần thực hiện như thế nào để có sự thống nhất giữa phần chuẩn bị ở nhà và thuyết trình trên lớp. Giáo viên định hướng cho HS các nhánh chính của SĐTD (sử dụng màu vẽ nổi bật đề tài, hình ảnh rõ nét, nội dung ngắn gọn, ), chủ yếu sử dụng phần đọc hiểu văn bản. HS có thể vẽ theo ý của mình nhằm phát triển năng lực tự chủ, sáng tạo, tính thẩm mỹ của HS. - Tuy nhiên GV không được giao nhiệm vụ xong và phó mặc cho các nhóm hoàn toàn. Mà thỉnh thoảng sau các buổi dạy, GV có thể tới các nhóm kiểm tra đột xuất việc học ở nhà của các em. - Để thực hiện tốt giải pháp này, GV liên hệ với phụ huynh để thông báo việc học nhóm của các em để phụ huynh nắm bắt và nhắc nhở các em thực hiện (qua điện thoại, nhóm zalo phụ huynh, ... để nắm bắt tình hình của các em có tham gia học nhóm hay không). * Ví dụ: Khi dạy bài 6. Phần đọc hiểu văn bản: “Bài học đường đời đầu tiên” (Tô Hoài) giáo viên giao 2 nhóm vẽ SĐTD phần tìm hiểu chung: Tác giả, tác phẩm; 2 nhóm vẽ phần tìm hiểu chi tiết: Nhân vật Dế Mèn, Dế Choắc và bài học đường đường đầu tiên, - Tác dụng: HS có thể hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy việc sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Từ đó rèn cho HS năng lực tạo lập văn bản nói (thuyết trình bài học dựa trên SĐTD mà nhóm đã vẽ). 9
  10. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” 3.2.2. Vận dụng sơ đồ tư duy trên lớp thông qua hoạt động nhóm. - Cách thực hiện: Sau khi các nhóm đã chuẩn bị ở nhà, đến lớp HS các nhóm thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về kiến thức của bài học. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học. Đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết trình sâu hơn nội dung mà nhóm mình đã thiết lập (GV cộng điểm khuyến khích các nhóm). Gọi HS tương tác nhận xét, đánh giá. HS có thể ghi nội dung bài học theo cách của mình hoặc vẽ SĐTD vào vở, miễn sao đảm bảo nội dung bài học. * SĐTD phần tìm hiểu chung: Tác giả, tác phẩm * SĐTD phần tìm hiểu chi tiết: Nhân vật Dế Mèn, Dế Choắc và bài học đường đường đầu tiên, - Tác dụng: Phát huy được năng lực tư duy, khái quát vấn đề đồng thời phát huy được năng lực tự chủ trong học tập, năng lực tiếp nhận văn bản qua thuyết 10
  11. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” trình, năng lực viết (ghi bài), năng lực nói và nghe (thuyết trình và tiếp nhận nội dung bài học) 3.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh tự học thông qua phiếu học tập. 3.3.1. Sử dụng phiếu học tập trong tự học ở nhà. - Cách thực hiện: Giáo viên thiết kế các phiếu học tập phù hợp với nội dung của bài học. GV phát trước phiếu học tập (trước 3 ngày hoặc một tuần) cho từng HS và giao nhiệm vụ cụ thể để chuẩn bị bài (tất cả phần đọc hiểu, viết, nói và nghe đều sử dụng được phiếu học tập). Tùy theo nội dung của từng bài GV phát 1 phiếu hoặc 2 đến 3 phiếu. HS tự làm vào phiếu của mình (HS lưu làm tài liệu học tập) * Ví dụ: Khi dạy bài 5: Văn bản thông tin. Đọc hiểu văn bản: Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc Lập. GV chuẩn bị sẵn phiếu học tập phát cho HS. PHIẾU HỌC TẬP 01 Câu 1. Trong phần 1 thời gian và thông tin cụ thể nào được nhắc đến? Có ý nghĩa gì? . . Câu 2. Qua tìm hiểu em biết gì về bảnTuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ? Tại sao Hồ Chí Minh lại đề nghị thả dù cho Người cuốn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ? PHIẾU HỌC TẬP 02 Câu 1. Ghi lại những thông tin cụ thể trong văn bản (tương ứng với mốc thời gian) Mốc thời gian Thông tin cụ thể Câu 2. Tại sao Bác yêu cầu phải xét duyệt bản Tuyên ngôn Độc lập kĩ càng? Em có nhận xét gì về quá trình chuẩn bị cho bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời? - Tác dụng: Phát huy được năng lực tự chuẩn bị bài độc lập ở nhà. Năng lực tiếp nhận văn bản (đọc hiểu), tạo lập văn bản (viết), năng lực ngôn ngữ (nói); phát huy được phẩm chất chăm chỉ, tự giác, 3.3.2. Sử dụng phiếu học tập trong tiết học trên lớp (Kết hợp các phương pháp và kĩ thuật dạy học). - Cách thực hiện: Đến giờ học HS trình bày các ý đã định hướng trong phiếu học tập. Tùy theo yêu cầu của từng bài mà GV phối kết hợp linh hoạt các phương 11
  12. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp. HS trình bày cá nhân, hoặc từ cá nhân HS trao đổi bạn cùng bàn (hoạt động cặp đôi), hoạt động nhóm. GV chia nhóm, nhóm trưởng điều hành cho các bạn trình bày ý kiến của cá nhân (phiếu học tập đã làm ở nhà), các thành viên thống nhất và hoàn thành vào bảng nhóm. Sau đó đại diện các nhóm trình bày nội dung bài học. HS đánh giá kết quả của nhóm bạn thông qua các tiêu chí đánh giá mà giáo viên đã định hướng (bảng kiểm, rubric,...) - Tác dụng: Phát huy năng lực tự chủ, hợp tác trong đọc hiểu, viết, nói và nghe. Nhằm giúp cho HS khắc sâu nội dung bài học hơn. Đồng thời giáo dục HS phẩm chất chăm chỉ, tự giác. 4. Hiệu quả của giải pháp. Để kiểm tra tính khả thi của giải pháp, tôi đã tiến hành lấy phiếu điều tra: Phiếu điều tra giống mẫu điều tra ở đầu năm 2021-2022, nhưng thực hiện hai lần vào cuối năm học 2021 - 2022 và cuối học kì I năm học 2022 - 2023. * Kết quả khảo sát học sinh: Cuối năm học 2021 – 2022, tôi tiến hành khảo sát lại lần 2 xem mức độ chuẩn bị bài mới, xung phong phát biểu xây dựng bài của các em trong các tiết học như thế nào. Kết quả có phần khả quan hơn, các em đã chủ động tìm hiểu trước bài mới ở nhà dẫn đến tiết học có phần sôi nổi và hiệu quả hơn. Cụ thể: Lớp Sĩ số HS có chuẩn bị bài Số HS phát biểu trong giờ học Số HS % Số HS % 6B 39 36 92,3% 25 64% 6C 39 30 76,9% 20 51,3% 12
  13. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” Cuối học kì I, đầu học kì II năm học 2022 - 2023 tôi tiếp tục tiến hành khảo sát lại lần 3 xem mức độ chuẩn bị bài mới, xung phong phát biểu xây dựng bài của các em trong các tiết học như thế nào. Cụ thể: Số HS có chuẩn bị bài Số HS phát biểu trong giờ học Lớp Sĩ số Số HS % Số HS % 6A 38 32 84,2% 20 52,6% 6B 39 30 77% 15 38,5% 6C 39 28 72% 14 35,9% Tôi nhận thấy việc đổi mới cách chuẩn bị bài của HS trước khi đến lớp, một mặt tạo được sự hứng thú, tự giác học tập, sự hợp tác nhịp nhàng giữa học sinh với giáo viên, giữa học sinh với học sinh. Ngoài ra, thông qua việc đổi mới này, giáo viên có thêm kênh thông tin nhằm đánh giá chính xác hơn về phẩm chất, năng lực và sự tiến bộ của học sinh. Và tôi nhận thấy nếu làm công việc này một cách thường xuyên và tâm huyết thì khả năng tự nghiên cứu, tự học của HS sẽ được nâng cao. III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT. 1. Kết luận. Trong quá trình giảng dạy tại trường TH và THCS Thắng Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, với vai trò là giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi luôn cố gắng hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ giảng dạy của mình. Qua giải pháp phát huy năng lực tự học của HS trong môn Ngữ văn, tôi nhận thấy: - Học sinh không còn ngại học môn Ngữ văn, tôi đã cảm thấy rất vui khi được học trò yêu mến, đồng nghiệp tin tưởng và đó là cũng một thành công nhất định trong sự nghiệp giảng dạy của bản thân tôi. - Việc hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, tự học trên lớp đã phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập bộ môn. Hoạt động này vừa đảm bảo xây dựng phương pháp học tập tích cực lấy học sinh làm trung tâm, vừa cho các em thấy rõ vai trò quan trọng của việc tự học, tự chuẩn bị bài ở nhà. Từ đó hỗ trợ được các em trong quá trình xây dựng phương pháp học tập mới, nâng cao chất lượng dạy và học tại nhà trường. 2. Đề xuất. Nhà trường cần bổ sung thêm sách tham khảo môn Ngữ văn (Sách Chân trời sáng tạo, Kết nối tri thức với cuộc sống) ở thư viện cho giáo viên và học sinh tham khảo thêm để mở rộng kiến thức. Định hướng cho học sinh phương pháp và cách thức học bộ môn một cách hiệu quả ngay từ đầu năm. 13
  14. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” Giáo viên chịu khó thiết kế phiếu học tập phù hợp với nội dung bài học cũng như năng lực của đối tượng HS của lớp đang giảng dạy. Cuối mỗi tiết học, GV dặn dò HS về nhà học bài và chuẩn bị bài mới một cách cụ thể, rõ ràng. Thường xuyên kiểm tra sự chuẩn bị của HS, yêu cầu mỗi HS phải chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên. Giáo viên cần linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học cho phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh; không ngừng tự học, tự bồi dưỡng năng lực tin học và ứng dụng công nghệ thông tin. Khai thác các tài nguyên giáo dục trên Internet một cách hiệu quả. Cần phối hợp chặt chẽ giữa học sinh - giáo viên và phụ huynh để cùng nhau phối hợp nâng cao chất lượng dạy và học. Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi đã vận dụng trong giảng dạy tại trường. Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện giải pháp không tránh những thiếu sót. Vì vậy rất mong được sự góp ý của ban giám khảo cuộc thi để các giải pháp được hoàn thiện và đạt kết quả tốt hơn trong giảng dạy của mình và ngày càng hoàn thiện hơn trong sự nghiệp trồng người. Trân trọng cảm ơn! Kon Tum, ngày 24 tháng 02 năm 2023 Người viết Phạm Thị Mỹ Loan 14
  15. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” TÀI LIỆU THAM KHẢO STT Tên tài liệu Tác giả Sách giáo khoa Ngữ văn 6 - bộ Nguyễn Minh Thuyết (Tổng Chủ 1 sách Cánh diều - NXB Đại học Sư biên) - Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), phạm TP HCM 2021 Sách giáo viên Ngữ văn 6 - bộ Nguyễn Minh Thuyết (Tổng Chủ 2 sách Cánh diều - NXB Đại học Sư biên) - Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), phạm TP HCM 2021 Chương trình giáo dục tổng thể Bộ GD&ĐT, vụ trung học phổ thông 3 môn Ngữ văn 2018. Học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp, 4 tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tế. 15
  16. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƢỜNG Đề tài: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” Tác giả: Phạm Thị Mỹ Loan Tổ chuyên môn: Ngữ văn – KHXH . Trường TH và THCSThắng Lợi Xếp loại:...............................; Tổng điểm:................ TP Kon Tum, ngày........tháng . năm 2023 TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CHỦ TỊCH Đoàn Thị Nhẫn 16
  17. SKKN: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ Đề tài: “Phát huy năng tự học của học sinh trong môn Ngữ văn lớp 6 - trường TH và THCS Thắng Lợi - Thành phố Kon Tum” Tác giả: Phạm Thị Mỹ Loan Tổ chuyên môn: Ngữ văn – KHXH . Trường TH và THCSThắng Lợi Xếp loại:...............................; Tổng điểm:................ TP Kon Tum, ngày........tháng . năm 2023 TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CHỦ TỊCH Thái Khắc Hoà 17