SKKN Một số giải pháp khắc sâu kiến thức Địa lí 12 bằng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số giải pháp khắc sâu kiến thức Địa lí 12 bằng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_giai_phap_khac_sau_kien_thuc_dia_li_12_bang_so_d.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp khắc sâu kiến thức Địa lí 12 bằng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC SÂU KIẾN THỨC ĐỊA LÍ 12 BẰNG SƠ ĐỒ HOẶC SƠ ĐỒ TƯ DUY” Năm học: 2023-2024 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Thực trạng việc dạy và học môn Địa lí lớp 12 trong nhà trường Môn Địa lí lớp 12 có vai trò quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thi tốt nghiệp của trường THPT Nguyễn Hiếu Tự, do có phần lớn học sinh chọn tổ hợp xã hội để thi tốt nghiệp trong đó có môn Địa lí. Việc học sinh bây giờ ngại học bài, hầu như các em không còn khả năng học thuộc bài như trước đây, đó là một sự thật bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học trong nhà trường. Thực trạng trong công tác dạy và ôn thi TN THPT môn địa lí cũng còn nhiều khó khăn, tuy những năm gần đây chất lượng bộ môn đã được cải thiện, tỉ lệ học sinh thi tốt nghiệp điểm trung bình trở lên khá cao so với mặt bằng chung của tỉnh, nhưng số lượng học sinh đạt điểm cao còn ít ảnh hưởng đến việc xét tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng của các em. Việc dạy - học môn Địa lí đạt kết quả cao là một yêu cầu bức thiết nhằm đáp ứng cho yêu cầu thi TN THPT và định hướng nghề cho học sinh. Trong năm học 2023-2024 tôi được nhận nhiệm vụ dạy học các lớp địa lí 12 với chất lượng trường giao đầu năm như sau: Lớp Số 8-10 6.5-7.9 5-6.4 3.5-4.9 lượng Số % Số % Số % Số lượng % lượng lượng lượng 12A1 34 19 55.9 13 38.2 2 5.9 0 12A4 35 8 22.8 17 48.6 8 22.8 2 5.8 12A6 32 6 18.7 15 46.9 8 25 3 9.4 TC 101 33 32.7 45 44.5 18 17.8 5 5.0 Nhìn chung chất lượng khá cao, tuy nhiên khi vào dạy trong thời gian đầu của HKI với phương pháp dạy học như trước đây giáo viên giảng bài, học sinh chép bài vào tập, học thuộc lòng rồi trả bài cho giáo viên, vận dụng kiến thức đã thuộc để làm các câu hỏi trắc nghiệm thật sự không mang lại hiệu quả cao. Với phương pháp này chỉ có tác dụng với những học sinh có học lực khá giỏi, có khả năng tự học, còn đối với các học sinh có năng lực học tập chậm hơn, hoặc những em chưa tích cực thì hầu như không có tác dụng nhiều. Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy phần lớn các em có tâm lí ngán ngại chép bài và học bài, do nội dung bài Địa lí 12 khá dài với nhiều kiến thức liên quan với nhau, vì vậy nhiều học sinh dễ bị hỏng kiến thức, vào lớp nhàm chán, thờ ơ với giáo viên, khả năng 1
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương tiếp thu bài chậm mau quên và không thể vận dụng kiến thức đã học để làm được các câu hỏi trắc nghiệm, thông qua một số bài kiểm tra đánh giá thì điểm số các em không được cao thường ở mức trung bình-khá ít có điểm giỏi. Do đó tôi đã nghiên cứu và áp dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau để nâng cao chất lượng và đảm bảo được kiến thức cho học sinh bước vào kì thi tốt nghiệp THPT sắp tới. Sau khi tìm hiểu và áp dụng nhiều hình thức, phương pháp dạy học khác nhau tôi nhận thấy việc dạy học bằng hình thức hướng dẫn học sinh sử dụng các sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) để ghi bài mang lại hiệu quả khá tốt bởi vì hình thức này giúp kích thích khả năng quan sát, suy luận logic, đặt vấn đề của học sinh, rất phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục hiện nay là phát huy tính chủ động tích cực của học sinh trong học tập. Khi giáo viên sử dụng sơ đồ vào giảng dạy, học sinh sẽ cảm thấy hứng thú hơn trong bài học. Loại sơ đồ này thường kết hợp nhiều hình ảnh với màu sắc để diễn tả, số lượng câu chữ được lược bỏ rất nhiều, giúp học sinh tư duy và tìm ra các mối liên quan giữa các kiến thức được học. Từ đó, học sinh sẽ dễ hiểu và ghi nhớ tốt hơn các khái niệm và nội dung chính của bài giảng. Đó là lý do tôi thực hiện sáng kiến “Một số giải pháp khắc sâu kiến thức Địa lí 12 bằng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy” để chia sẽ cùng quý đồng nghiệp. 2. Phạm vi đề tài Từ thực tế dạy học và ôn tập qua nhiều năm rút kinh nghiệm tôi thấy các biện pháp sau đây mang lại hiệu quả khá tốt: - Xây dựng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy - Hướng dẫn học sinh vẽ và học bằng sơ đồ tư duy - Cách thực hiện sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) trong dạy học + Sử dụng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ + Sử dụng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy trong giảng dạy bài mới + Sử dụng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức bài học + Sử dụng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy để ra bài tập về nhà + Sử dụng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy hỗ trợ tiết tổng kết, ôn tập Qua đây tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm mà tôi đã thực hiện và đạt hiệu quả nhất định, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Địa lí và chất lượng đỗ tốt nghiệp cho học sinh khối 12 để các quý vị đồng nghiệp tham khảo thêm và có thể áp dụng trong quá trình thực hiện công tác giảng dạy và ôn tập của mình. 2
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI. 1. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện các giải pháp. 1.1. Thuận lợi. Được BGH tin tưởng phân công giảng dạy, ôn tập thi TNTHPT môn địa lí khối 12 nên mỗi năm lại có thêm kinh nghiệm và bài học về công tác giảng dạy, ôn tập. Một bộ phận học sinh có ý thức kỷ luật cao, ý thức học tập tốt, chuyên cần. Cơ sở vật chất nhà trường trang bị đầy đủ hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh. Được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, tổ bộ môn, đồng nghiệp tạo điều kiện nâng cao chất lượng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bậc phụ huynh với giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn. 1.2. Khó khăn. Bên cạnh những thuận lợi trên thì công tác giảng dạy của tôi cũng gặp một số khó khăn nhất định: Đa số học sinh có hộ khẩu nông thôn, nhà xa trường, đời sống kinh tế một số gia đình khó khăn, việc đầu tư cho con em trong quá trình học tập còn nhiều hạn chế. Một số học sinh có tư tưởng học đối phó, qua loa vì nghĩ môn phụ không có nhu cầu học đại học nên chỉ cần điểm mức trung bình là được. Do chương trình và nội dung quá dài, các em phải học thuộc lòng với khối lượng kiến thức nhiều nên gây tâm lý ngán, ngại cho học sinh. Với những thực trạng trên, để nâng cao chất lượng giảng dạy và thi TNTHPT môn Địa lí, tôi đã mạnh dạn dạy các em bằng phương pháp “Khắc sâu kiến thức Địa lí 12 bằng sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy”. 2. Những giải pháp thực hiện 2.1. Xây dựng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) Để tiết học hiệu quả, hấp dẫn đối với học sinh, giáo viên phải nghiên cứu cách vẽ sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) một cách dễ hiểu nhất trên cơ sở đó hướng dẫn học sinh học theo sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy). Bắt đầu ở trung tâm với bức ảnh hoặc tên chủ đề, sử dụng màu nổi bật. Sử dụng hình ảnh, kí hiệu, mật mã, mũi tên trong sơ đồ. Chọn những từ khóa và viết hoa. Mỗi từ, hình ảnh đứng một mình trên một dòng riêng. Những đường thẳng cần được kết nối, bắt đầu từ trung tâm. Sử dụng điểm nhấn và chỉ ra mối liên kết trong sơ đồ. Làm cho sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số thứ tự hoặc dàn ý để bao quát các nhánh của sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy). 3
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương Khi vẽ sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) giáo viên nên sử dụng màu sắc hình ảnh bắt mắt, sử dụng từ ngữ trọng tâm ngắn gọn dễ hiểu, kết nối các ý tưởng với nhau và thay đổi, bổ sung nó khi có thêm thông tin mới hoặc suy nghĩ sâu hơn về chủ đề của mình. 2.2. Hướng dẫn học sinh vẽ và học bằng sơ đồ tư duy Sau khi giáo viên nghiên cứu xây dựng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) cho chủ đề bài học, giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách vẽ và học bằng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) điều này được tóm tắt qua 4 bước: Bước 1: Học sinh lập sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) theo nhóm hay cá nhân với gợi ý, hướng dẫn của giáo viên. Bước 2: Học sinh hoặc đại diện nhóm lên báo cáo, thuyết trình về sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) mà mình thiết lập. Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) về kiến thức của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy), từ đó dẫn dắt học sinh đến kiến thức bài học. Bước 4: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy mà giáo viên chuẩn bị sẵn hoặc một sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình bày thuyết trình về kiến thức đó. Khi kiểm tra bài cũ hay củng cố kiến thức, giáo viên có thể sử dụng phương pháp này để hướng dẫn học sinh hệ thống kiến thức bài học. Các sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) không chỉ cho thấy các thông tin mà còn cho thấy cấu trúc tổng thể của một chủ đề bài học. Nó giúp học sinh liên kết các ý tưởng và tạo các kết nối với các ý khác. Lập sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) là một cách ghi chép hiệu quả đối với việc học và tiếp thu kiến thức. VD: Khi dạy Bài 2: VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ PHẠM VI LÃNH THỔ. Học sinh cần nắm được các kiến thức cơ bản như vị trí địa lí của nước ta, phạm vi lãnh thổ vùng đất, vùng biển, vùng trời; ý nghĩa của vị trí địa lí về mặt tự nhiên, kinh tế, văn hóa-xã hội và quốc phòng. Vì vậy giáo viên hướng dẫn học sinh thiết lập sơ đồ tư duy theo từng nội dung kiến thức. 4
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương Việc hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) mất khá nhiều thời gian. Ngoài ra, nếu người vẽ trình bày quá rắc rối thì học sinh sẽ khó mà hiểu được nội dung cần truyền đạt. Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn chi tiết rõ ràng để học sinh nắm được trọng tâm bài học, các ý chính, ý phụ để việc vẽ sơ đồ thật hiệu quả và phát huy được tính sáng tạo của các em. Đối với học sinh, các em có thể vẽ sơ đồ phân nhánh hoặc có thể sử dụng các phần mềm để vẽ sơ đồ tư duy bằng máy tính, vừa tiện lợi, vừa khoa học và đẹp mắt. 2.3. Cách thực hiện sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) trong dạy học a. Sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) trong kiểm tra, đánh giá Thời gian kiểm tra bài cũ hoặc kiểm tra thường xuyên thường ngắn từ 5-10 phút nên yêu cầu của giáo viên thường không quá khó, phần lớn là tái hiện nội dung đã học, học sinh chỉ cần học thuộc lòng để tái hiện lại kiến thức, điều này chỉ đánh giá được khả năng học bài của các em chứ chưa đánh giá mức độ hiểu biết và vận dụng của học sinh. Do đó sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra đánh giá giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh. Các sơ đồ thường được giáo viên sử dụng ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét từ mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm. VD: Sau khi học xong BÀI 11-12: THIÊN NHIÊN PHÂN HÓA ĐA DẠNG. Giáo viên muốn kiểm tra bài cũ nội dung “Thiên nhiên phân hóa theo độ cao” giáo viên có thể cho HS hoàn thành nội dung theo sơ đồ bên dưới, sau đó dựa vào sản phẩm học sinh hoàn thành giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi cấp độ thông hiểu và vận dụng ví dụ: “Tại sao Miền Bắc có 3 đai cao trong khi Miền Nam chỉ có 2 đai? Tại sao đai nhiệt đới gió mùa độ cao ở Miền Bắc thấp hơn ở Miền Nam? Trong 3 đai cao thì đai nào chiếm diện tích lớn nhất? tại sao?” Với cách kiểm tra bài này chúng ta hạn chế tình trạng học vẹt, vừa đánh giá khả năng nhận thức, cũng như khắc sâu nội dung bài học thông qua hình ảnh trực quan, thông qua đó giúp học sinh xác định được các từ khóa, nội dung cơ bản để trả lời được các câu hỏi trắc nghiệm. 5
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương b. Sử dụng (hoặc sơ đồ tư duy) trong giảng dạy bài mới Sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) là một gợi ý cho cách trình bày nội dung bài học. Phương pháp truyền thống giáo viên thường gạch đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng sau đó học sinh chép bài vào tập, nay giáo viên có thể sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) để thể hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách trực quan. Cả giáo viên và học sinh đều làm việc trên sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) một cách chủ động tích cực làm cho tiết học trở nên sôi động hơn, có thể kích thích được năng khiếu hội họa của một số học sinh trong lớp. VD: Khi dạy “Bài 18: Đô thị hóa”, học sinh cần nắm được đặc điểm đô thị hóa, mạng lưới đô thị, ảnh hưởng của đô thị đến phát triển kinh tế xã hội, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) như sau để hướng dẫn học sinh ghi bài vừa đơn, vừa khoa học mà học sinh có thể dễ dàng tiếp thu, chọn lọc kiến thức một cách nhanh chóng để trả lời được các câu hỏi trắc nghiệm. c. Sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) trong việc củng cố kiến thức bài học Sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) trong củng cố kiến thức là việc làm mang lại hiệu quả cao trong dạy học, có nhiều hình thức khác nhau để củng cố kiến thức cho học sinh bằng sơ đồ như sau: Giáo viên có thể sử dụng sơ đồ để khái quát lại nội dung của bài học một cách cô đọng nhất để học sinh dễ khắc sâu kiến thức trọng tâm. Giáo viên cũng có thể cho học sinh vẽ nhanh lại sơ đồ nội dung bài vừa học ra giấy, sau đó giáo viên đưa ra sơ đồ đã chuẩn bị trước để học sinh so sánh với sản phẩm của mình và bổ sung thêm nội dung còn thiếu để hoàn chỉnh, qua đó học sinh vừa được củng cố kiến thức, vừa phát huy tính sáng tạo thông qua sơ đồ mà học sinh đã vẽ. Củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập thích hợp nhất là điền thông tin còn thiếu vào sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy), các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài, sau đó yêu cầu học sinh viết các nội dung còn thiếu đó, cách này giúp học sinh một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm bài học. 6
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương VD: Sau khi học xong “Bài 32: Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung Du Và Miền Núi Bắc Bộ“, do nội dung bài dài nhiều nội dung cần nhớ và có mối lên hệ với nội dung kiến thức của phần tự nhiên nên phần củng cố giáo viên cho học sinh vẽ lại sơ đồ những nội dung vừa tiếp thu. Giáo viên chia lớp làm 5 nhóm, mỗi nhóm vẽ sơ đồ về một thế mạnh phát triển kinh tế của vùng TDMNBB, sau đó giáo viên đưa ra nội dung trọng tâm ở giữa yêu cầu học sinh dán sản phẩm của nhóm lên cho phù hợp. Giáo viên nhận xét đánh giá và bổ sung các hạn chế của sản phẩm các nhóm. Bằng cách này, học sinh có thể tóm tắt và khắc sâu kiến thức vừa học, không bị bỏ sót ý, nhớ lâu và hiểu sâu các ý chính, đồng thời giúp các em hứng thú hơn trong tiết học. d. Sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) để ra bài tập về nhà Làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện tìm kiếm tài liệu nên bài tập về nhà mà giáo viên giao cho học sinh trước hết phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ học sinh, thời gian). Yêu cầu đối với bài về nhà cũng cần khó hơn và cần sự đầu tư lớn hơn, qua đó thể hiện sự sáng tạo và tích cực tìm kiếm tài liệu của học sinh. e. Sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) hỗ trợ tiết ôn tập chương hay chủ đề Sau mỗi chương, mỗi phần giáo viên cần tổng kết, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cho học sinh trước khi các em làm bài tập và làm kiểm tra giữa học kì, cuối kì. Với thế mạnh của sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) kiến thức được hệ thống hóa dưới dạng sơ đồ, các đường nối là sự diễn tả mạch lạc, logic kiến thức hoặc các mối quan hệ nhân quả hay quan hệ tương đương sẽ giúp học sinh nhìn thấy tổng thể kiến thức đã học. Với cách này giáo viên có thể cùng học sinh làm tại lớp hoặc có thể giao cho học sinh làm tại nhà theo từng cá nhân hoặc theo nhóm. VD: Sau khi dạy xong chủ đề “ĐỊA LÍ DÂN CƯ”, giáo viên có thể yêu cầu học sinh thiết lập sơ đồ về mối quan hệ giữa dân số-phân bố dân cư với vấn đề việc làm và hướng giải quyết việc làm. Thông qua đó học sinh sẽ hiểu được mối quan hệ giữa vấn đề dân số và việc làm một cách đơn giản và hiệu quả nhất. 7
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương Nguồn lực Dân số đông, Lao động dồi phát triển tăng nhanh, cơ dào và tăng cấu DS trẻ kinh tế Dân cư phân bố không đều Khó khăn cho Thất nghiệp giải quyết và thiếu việc Giữa ĐB và việc làm và làm trở thành TDMN khai thác tài vấn đề gay Giữa thành thị - nguyên gắt nông thôn Hướng giải Dân số phát quyết việc triển ổn định làm 2.4. Một số lưu ý khi sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí 12 Để sử dụng có hiệu quả sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) vào trong dạy học đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu kỹ chương trình, nội dung các bài học để lựa chọn ra các phần, các bài có thể áp dụng sơ đồ tư duy. Không phải bài nào chúng ta cũng sử dụng hình thức này vì có thể nội dung không phù hợp hoặc sẽ gây nhàm chán và mất thời gian cho giáo viên và học sinh. Sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) phù hợp nội dung, đối tượng học sinh cũng như đúng mục đích sẽ mang lại hiệu quả cao. Đối với học sinh cần hướng dẫn học sinh biết cách vẽ, trình bày nội dung sao cho phù hợp, tùy vào trình độ, năng khiếu mà các em có thể vẽ trên giấy hoặc có thể vẽ trên các phần mềm máy tính để hoàn thành sản phẩm của mình. Cần kết hợp sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) với các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác để tạo hứng thú cho học sinh làm cho tiết dạy thêm sinh động. III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 1. Tính mới Đối với giáo viên: Tìm ra phương pháp dạy học mới, phù hợp với đối tượng học sinh mình giảng dạy, giúp học sinh dễ học, dễ nhớ, giảm áp lực khi học môn Địa lí. Đối với học sinh: Với hình thức thi trắc nghiệm, học sinh không cần phải thuộc lòng quá nhiều kiến thức trong sách giáo khoa, chỉ cần hiểu bài và kết nối các vấn đề, suy luận để lựa chọn các đáp án đúng nhất. Phương pháp này sẽ tác động học sinh nhiều hướng: vừa nghe, vừa nhìn, vừa suy nghĩ, vừa hoạt động tư duy... giúp học sinh nâng cao hiệu quả học tập. 8
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương 2. Tính hiệu quả Sau khi áp dụng cách làm trên, tôi thấy hiệu quả rõ rệt số học sinh đạt khá giỏi chiếm tỷ lệ cao khoảng 98%. Cụ thể trong năm học 2023 – 2024, ở các lớp 12 tôi giảng dạy đạt kết quả khả quan như sau: * Chất lượng đầu năm trường giao Lớp Số 8-10 6.5-7.9 5-6.4 3.5-4.9 lượng Số % Số % Số % Số lượng % lượng lượng lượng 12A1 34 19 55.9 13 38.2 2 5.9 0 0 12A4 35 8 22.8 17 48.6 8 22.8 2 5.8 12A6 32 6 18.7 15 46.9 8 25 3 9.4 TC 101 33 32.7 45 44.5 18 17.8 5 5.0 * Chất lượng cuối năm đạt được Lớp Số 8-10 6.5-7.9 5-6.4 3.5- 4.9 lượng Số % Số % Số % Số lượng % lượng lượng lượng 12A1 34 20 58.9 11 32.3 3 8.8 0 0 12A4 35 16 45.7 14 40 4 11.4 1 2.9 12A6 32 12 37.5 19 59.4 1 3.1 0 0 TC 101 48 47.5 44 43.6 8 7.9 1 1.0 Với biện pháp này thì tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi tăng lên trên 90% so với chất lượng đầu năm, số học sinh điểm trung bình cũng đã giảm. Trong thời gian ôn tập thi tốt nghiệp nhiều học sinh sẽ không còn tâm lí ngại, sợ học bài môn Địa lí. Các em có thể lĩnh hội kiến thức khá tốt thông qua các dạng sơ đồ để hiểu bài, nhớ lâu, có thể vận dụng kiến thức làm tốt các câu hỏi trắc nghiệm và tự tin bước vào kì thi quan trọng sắp tới. IV. KHẢ NĂNG NHÂN RỘNG, Đề tài có thể được áp dụng trong công tác giảng dạy học sinh môn Địa lí 12 tại trường THPT Nguyễn Hiếu Tự có hiệu quả. Đề tài có khả năng nhân rộng cho các môn học xã hội khác trong trường THPT Nguyễn Hiếu Tự hoặc cũng có thể áp dụng cho các trường THPT khác trong tỉnh. 9
- Sáng kiến kinh nghiệm 2023-2024 Phan Thị Linh Phương V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Đứng trước thực trạng chung của vấn đề dạy và học địa lí hiện nay, việc đổi mới phương pháp trong dạy học Địa lí là vấn đề thiết yếu đối với mỗi giáo viên. Tôi nhận thấy phương pháp dạy học bằng hình thức sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) đã mang lại hiệu quả thiết thực, đây là một trong những phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh lĩnh hội và khắc sâu kiến thức một cách dễ dàng nhất. Ngoài ra chúng ta có thể phối hợp phương pháp này với những phương pháp khác để tăng thêm hiệu quả trong giảng dạy môn Địa lí. Trong thời kì hội nhập hiện nay, vấn đề truyền tải kiến thức địa lí cho học sinh càng phải được quan tâm chú trọng hơn, qua đó góp phần giáo dục thế hệ trẻ phương pháp học tập tích cực chủ động sáng tạo hơn, tạo niềm tin cho học sinh và xã hội. 2. Kiến nghị Từ kết quả thu được trong quá trình sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) vào dạy và học Địa lí lớp 12 nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học, tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất như sau: Bản thân giáo viên cần phải nâng cao hơn nửa tay nghề về chuyên môn nghiệp vụ. Cần có sự đầu tư để có những sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) khác nhau phù hợp nội dung kiến thức trong từng mục, từng bài, từng chương và phù hợp với đối tượng học sinh. Thường xuyên tổ chức dạy theo phương pháp sử dụng sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) để phát triển khả năng sáng tạo, thẩm mĩ, tư duy của của học sinh. Cần hướng dẫn kĩ cho học sinh chuẩn bị nội dung bài học ở nhà thông qua sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy), sau đó kiểm tra sự chuẩn bị của các em và quan tâm đến các nhóm, các học sinh yếu kém, tuyên dương, động viên những nhóm làm tốt để khuyến khích các em say mê yêu thích môn học. Trên đây là ý kiến chủ quan của tôi cho nên không thể tránh những thiếu sót. Kính mong được các đồng nghiệp đóng góp ý kiến chân thành để tôi thực hiện tốt hơn, tôi xin chân thành cảm ơn. ---------------***----------------- Vũng Liêm, ngày 15 tháng 12 năm 2023 NGƯỜI VIẾT PHAN THỊ LINH PHƯƠNG 10

