SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt

doc 41 trang tieumy 31/08/2025 670
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_hop_tac_cho_hoc_sinh_lop_5.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt

  1. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ nguyên âm GV Giáo viên HS Học sinh DTTS Dân tộc thiểu số GD&ĐT Giáo dục và đào tạo CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông PPDH Phương pháp dạy học KTDH Kĩ thuật dạy học SL Số lượng SGK Sách giáo khoa GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 1
  2. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. A. MỞ ĐẦU I. Lí do viết sáng kiến kinh nghiệm: Hiện nay, trên thế giới khi các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, lần thứ tư nối tiếp nhau ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đem lại cơ hội phát triển vượt bậc, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển. Mặt khác, những biến đổi về khí hậu, tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái và những biến động về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thách thức có tính toàn cầu. Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội. Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu. Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã tổ chức xây dựng và ban hành CTGDPT mới để nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng những đòi hỏi của thực tế và bắt kịp xu thế chung của nhân loại. Trong CTGDPT mới 2018 xác định mục tiêu giáo dục là bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học, chuyển từ dạy học tiếp cận nội dung (dạy để học sinh biết gì?) sang dạy học phát triển phẩm chất và năng lực của người học (dạy để học sinh làm được gì?), chú trọng rèn kĩ năng sống, phát triển tiềm năng của mỗi HS. Một trong những kĩ năng không thể thiếu trong thực tiễn học tập và cuộc sống đó là kĩ năng hợp tác. Để giúp HS có kĩ năng hợp tác, GV cần tổ chức dạy học hợp tác. Đây là một trong những PPDH phát huy tính tích cực của người học. Với phương pháp này, người học được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia thực hiện nhiệm vụ được giao. Hợp tác nhóm giúp các em rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho các em học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tích cực. Hoạt động nhóm giúp huy động khả năng của nhiều người để hoàn thành những nhiệm vụ mà một cá nhân khó có thể thực hiện được. Trong một khoảng thời gian nhất định, mỗi nhóm tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 2
  3. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. Học tập theo phương pháp hợp tác nhóm giúp HS rèn luyện khả năng trình bày trước đám đông – điều mà đa số HS tiểu học, đặc biệt là những HS người đồng bào DTTS còn hạn chế. PPDH hợp tác còn rèn cho HS biết cách sống trong tập thể, biết nói, biết nghe người khác nói. Đây là tiền đề để xây dựng nên một xã hội tốt đẹp. Qua sinh hoạt nhóm, tình đoàn kết sẽ được tăng lên nhờ sự thông hiểu nhau. Cũng qua đó, các thành viên trong nhóm sẽ biết tuân thủ các qui định, trước hết là qui định của nhóm. Điều này tạo tiền đề để sau này các em sẽ tuân thủ tốt qui định của pháp luật. Vì vậy, rèn kĩ năng hợp tác cho HS là một việc làm hết sức cần thiết. Trong thực tế dạy học, PPDH hợp tác đã được hầu hết giáo viên áp dụng ở tất cả các môn học, trong đó có môn Tiếng Việt. Thế nhưng không phải ai cũng phát huy được hiệu quả của nó. Vậy nguyên nhân là gì? Làm thế nào để khắc phục hiện trạng này? Để giải quyết vấn đề đó, tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt” làm đề tài nghiên cứu của mình. II. Đối tượng nghiên cứu, khảo sát, thực nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt. III. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp như: - Phương pháp phân tích tài liệu về dạy học hợp tác và rèn kĩ năng học hợp tác nhóm cho học sinh. - Phương pháp quan sát quá trình học tập và hoạt động của học sinh lớp 5A qua các môn học. - Phương pháp điều tra bằng phiếu tìm hiểu thực trạng kĩ năng học hợp tác của HS lớp 5A. - Phương pháp phỏng vấn GV và HS lớp 5A tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS. - Phương pháp thực nghiệm nhằm khẳng định tính khả thi của các biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho HS lớp 5A trong môn Tiếng Việt. - Phương pháp thống kê, đánh giá về số liệu và kết quả đạt được của HS sau thực nghiệm. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 3
  4. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. IV. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: 1. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu trong phạm vi HS lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan vùng đồng bào DTTS. 2. Kế hoạch nghiên cứu: - Thời gian nghiên cứu: Từ 08/2020 đến 03/2021 - Thời gian bắt đầu: 08/2020 - Thời gian kết thúc: 03/2021 B. NỘI DUNG I. Thực trạng vấn đề nghiên cứu: 1. Cơ sở về lý luận: 1.1. Một số khái niệm: a) Khái niệm dạy học hợp tác: Dạy học hợp tác hay còn gọi là dạy học theo nhóm: trong đó, học sinh được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập trên cơ cở phân công và hợp tác làm việc, sản phẩm tạo ra chính là kết quả của nhóm và sẽ được chia sẻ và đánh giá trước lớp. b) Khái niệm kĩ năng học hợp tác: Kĩ năng học hợp tác là những hành động thực hiện nhiệm vụ học tập của người học được tiến hành một cách tự giác, linh hoạt trong điều kiện, môi trường học tập hợp tác nhóm dựa trên kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết về việc học, những điều kiện tâm sinh lý, xã hội khác của cá nhân và của nhóm nhằm đạt được kết quả theo mục đích, tiêu chí đã định. 1.2. Đặc điểm của học hợp tác: + Về nhiệm vụ học tập: dạy học hợp tác không chỉ truyền thụ cho HS những kiến thức mà còn giúp HS phát triển tư duy, hình thành các kĩ năng thực hành sáng tạo, tạo tiền đề cho HS thích ứng, hòa nhập với đời sống xã hội. + Về nội dung: Nội dung học hợp tác rất đa dạng, phong phú. Nó không chỉ là những tri thức khoa học mà còn là những bài tập, những tình huống cần xử lý, những vấn đề cần giải quyết, các dạng thực hành tìm tòi, phát hiện cho nên khi áp dụng dạy học hợp tác cần kết hợp với các PPDH khác. + Về hình thức tổ chức: Phối hợp các hình thức tổ chức (tập thể - nhóm, nhóm – cá nhân), không gian, thiết bị - đồ dùng dạy học sao cho phù hợp với yêu cầu của hoạt động hay của tiết học. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 4
  5. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. + Về đánh giá: Kết quả đánh giá bao gồm: Đánh giá của GV, HS tự đánh giá và đánh giá bạn thông qua hợp tác làm việc. 1.4 Hệ thống các kĩ năng hình thành cho HS khi tổ chức học hợp tác: Qua tổ chức dạy học hợp tác có thể hình thành cho HS các nhóm kĩ năng sau: a) Nhóm kĩ năng hình thành và tổ chức nhóm : - Kĩ năng di chuyển tạo nhóm: HS di chuyển nhanh và hợp lý, chọn vị trí phù hợp theo yêu cầu của GV để tạo nhóm. - Kĩ năng giới thiệu: HS giới thiệu ngắn gọn về bản thân để các bạn trong nhóm biết thông tin của nhau nhất là điểm mạnh, điểm yếu để có cơ sở phân công nhiệm vụ. Việc giới thiệu thường được sử dụng trong thời gian đầu làm việc nhóm. Sau này các em thường biết thông tin về nhau nên có thể bỏ qua việc này. - Kĩ năng phân công nhiệm vụ: HS bầu ra nhóm trưởng, thư kí. Nhóm trưởng, thư kí cần được thường xuyên thay đổi để HS nào cũng có cơ hội được làm và có được kĩ năng thực hiện. Sau đó nhóm trưởng cho các thành viên trong nhóm phân công nhiệm vụ cá nhân. HS có thể tự nhận nhiệm vụ cá nhân vừa sức hoặc dựa vào điểm mạnh sở trường cá nhân để phân công nhiệm vụ. Cần đảm bảo mỗi thành viên đều có nhiệm vụ. Việc phân công nhiệm vụ cần được thỏa thuận giữa các thành viên trong nhóm. - Kĩ năng quản lý thời gian: Phân bố thời gian hợp lý cho từng phần việc để hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian quy định. Để quản lý thời gian tốt các em cần phân công nhiệm vụ và giao thời gian thực hiện tối đa cho từng phần việc. b) Nhóm kĩ năng tương tác: - Kĩ năng trình bày ý kiến cá nhân: HS mạnh dạn, tự tin phát biểu ý kiến trước các bạn trong nhóm hoặc cả lớp. Các em cần bày tỏ ý kiến cá nhân và giải thích, thuyết trình về ý kiến đó để các thành viên khác hiểu rõ hơn. Mỗi HS đều có quyền tham gia ý kiến, chia sẻ ý kiến của mình với các thành viên khác. Sau khi nêu ý kiến của bản thân cần trưng cầu ý kiến của thành viên khác để nhận xét ý kiến của mình. Cần tạo cơ hội để các cá nhân đều được đưa ra ý kiến của mình. - Kĩ năng lắng nghe: HS lắng nghe ý kiến của các thành viên trong nhóm. Để phản hồi chính xác được thông tin thì cần phải có kĩ năng lắng nghe. Lắng nghe là biết tập trung chú ý, sử dụng các giác quan của bản thân để thu nhận thông tin của các thành viên khác trong quá trình tương tác giữa các thành viên. Nó không chỉ dừng lại ở việc thu nhận âm thanh mà còn phải hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền đạt, phân tích theo hướng tích cực, phản hồi GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 5
  6. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. lại với sự tôn trọng người nói dù cho ý kiến đó có trái ngược với quan điểm của mình. Kĩ năng lắng nghe: là một trong những kĩ năng quan trọng thể hiện được sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Biểu hiện của kĩ năng lắng nghe là ngừng nói, biết chờ đến lượt mình để nói, thể hiện cho người nói thấy rằng bạn muốn nghe, tránh những việc làm gây mất tập trung, tránh tranh cãi hoặc phê phán, cần kiên nhẫn và đặt câu hỏi đúng lúc. Với HS tiểu học thì kĩ năng lắng nghe cần được rèn luyện nhiều vì khả năng tập trung chú ý của các em chưa tốt. GV cần bao quát các nhóm để hướng dẫn, giúp đỡ khi cần thiết. - Kĩ năng đối thoại trong nhóm: Kĩ năng này rất quan trọng thể hiện giao tiếp của các thành viên trong nhóm với nhau. Các thành viên bày tỏ ý kiến, quan điểm cá nhân còn các thành viên khác chú ý lắng nghe và có những phản hồi tích cực. Việc đối thoại của các thành viên có thể đưa ra được những ý kiến tích cực và thống nhất trong việc giải quyết nhiệm vụ được giao. Ngoài ra việc đối thoại của HS còn cho thấy được thái độ hợp tác của các em. GV cần khuyến khích việc đối thoại, tranh luận của HS và chú ý quan sát việc đối thoại của HS để tránh việc các em biến cuộc đối thoại thành tranh cãi. - Kĩ năng hỗ trợ cho bạn trong nhóm: Khi các bạn trong nhóm chưa thực hiện được nhiệm vụ thì cần trợ giúp bằng cách hướng dẫn, giải thích cho bạn hiểu, giúp bạn một phần công việc chứ không làm thay bạn. GV cần khuyến khích các em hỗ trợ nhau trong hoạt động nhóm. Việc làm này không chỉ giúp các nhóm có kết quả hoạt động tốt mà còn giúp HS cùng nhau tiến bộ trong học tập, các em biết chia sẻ, giúp đỡ người khác. - Kĩ năng thể hiện thái độ hợp tác: Luôn sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ của mình, chia sẻ tài liệu và kết quả thực hiện, kiểm soát cảm xúc khi có ý kiến góp ý trái ngược, chấp nhận những ý kiến đóng góp đúng. Có thể dùng cử chỉ điệu bộ khích lệ, cổ vũ đồng đội cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Có thể thấy được thái độ hợp tác qua những biểu hiện như: cùng nhau tiến hành công việc khi nhận nhiệm vụ, chụm đầu cùng làm việc, bắt tay thể hiện sự đồng sức đồng lòng, có những lời nói khuyến khích bạn thực hiện nhiệm vụ,... c) Nhóm kĩ năng thực hiện nhiệm vụ học tập - Kĩ năng quan sát: Quan sát các đối tượng để thu thập các thông tin cần thiết, quan sát hoạt động của các bạn trong nhóm và nhóm khác, sản phẩm... Biết cách quan sát và ghi thông tin cơ bản về đối tượng phục vụ việc giải quyết nhiệm vụ nhóm. HS tiểu học thường quan sát không đúng trọng tâm hay quan sát không đầy đủ. GV cần có phiếu hoạt động nhóm, phiếu thông tin để hướng dẫn học sinh quan sát đúng trọng tâm, đúng mục đích. - Kĩ năng tìm kiếm thông tin: HS tra cứu thông tin từ tài liệu, sách, phiếu thông tin, bảng biểu, ... sau đó cùng nhau xử lý thông tin, chọn lọc thông tin để giải quyết nhiệm vụ cá nhân hoặc nhiệm vụ chung của nhóm. Các thành viên GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 6
  7. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. trong nhóm có thể phân công nhiệm vụ trong việc tìm kiếm thông tin để có được thông tin chính xác và nhanh nhất. - Kĩ năng thao tác với dụng cụ học tập: Thao tác đúng theo hướng dẫn hay quy trình kĩ thuật, đảm bảo về an toàn và vệ sinh lao động. Sử dụng những dụng cụ sẵn có để giải quyết nhiệm vụ học tập. Với những nhiệm vụ cần thao tác với dụng cụ học tập, HS cần hiểu rõ cách sử dụng. Nếu không biết có thể hỏi các thành viên khác trong nhóm hoặc nhờ sự hướng dẫn của GV. - Kĩ năng thực hiện báo cáo: Thực hiện điền thông tin vào phiếu làm việc nhóm, ghi chép thông tin, trả lời câu hỏi,tóm tắt bằng sơ đồ...để thuận tiện cho việc báo cáo. Nhóm cử thành viên đại diện trình bày kết quả đã thực hiện. Các thành viên cần được luân phiên thay đổi để báo cáo kết quả hoạt động để các em đều có thể tự tin trình bày trước lớp. Với những nội dung phức hợp, các nhóm có thể cử mỗi cá nhân báo cáo một phần kết quả hoạt động nhóm. - Kĩ năng tóm tắt nội dung: Dựa vào yêu cầu thực hiện, các thông tin thu được, các sản phẩm để rút ra nội dung kết luận, kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ. d) Nhóm kĩ năng đánh giá, phản hồi - Kĩ năng đánh giá, tự đánh giá: Dựa vào tiêu chuẩn và các yêu cầu được phân công để đánh giá và tự đánh giá kết quả cần đạt. Việc đánh giá và tự đánh giá cần được tiến hành thường xuyên để HS đều có kĩ năng đánh giá hoạt động của bản thân và các bạn trong nhóm. GV cần cho HS đánh giá trong nhóm thường xuyên, nhận xét đánh giá kết quả làm việc của các nhóm khác và bao quát cả lớp để nhận xét hoạt động của tất cả các nhóm. - Kĩ năng nêu nhận xét: Dựa vào các yêu cầu và tiêu chí để nhận xét sản phẩm, hoạt động, nêu điểm tốt trước những mặt hạn chế nêu sau. GV cần khuyến khích HS tích cực nêu nhận xét để biết những nhiệm vụ nào đã hoàn thành, những nhiệm vụ nào chưa hoàn thành, khi hoạt động gặp khó khăn gì. Từ đó, khắc phục khó khăn cho HS và rút kinh nghiệm trong những hoạt động sau. - Kĩ năng phản hồi ý kiến: Thông báo với nhóm trưởng hay GV về việc rõ hay chưa rõ nhiệm vụ được giao, thông báo đã thực hiện xong công việc, những nội dung đã hoàn thành và nội dung chưa hoàn thành,... Việc phản hồi ý kiến rất quan trọng giúp GV và các thành viên khác trong nhóm biết được những khó khăn của mỗi cá nhân để có hướng dẫn phù hợp - Kĩ năng điều chỉnh: Chỉnh sửa, bổ sung về cách làm, chi tiết sản phẩm sau khi được GV và các bạn góp ý, rút kinh nghiệm cho các lần tiếp theo để hoàn thành việc tốt hơn. Kĩ năng điều chỉnh sẽ giúp cho những lần hợp tác tiếp theo đạt kết quả tốt hơn, khắc phục những sai lầm của hoạt động trước đã mắc phải. Trong thực tế dạy học, dựa vào nội dung học tập GV giúp cho HS rèn luyện một số kĩ năng tương ứng chứ không phải mọi kĩ năng luôn được thực hiện đầy đủ. GV cần biết lựa chọn thời điểm phù hợp và có biện pháp thích hợp để giáo dục kĩ năng nào đó. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 7
  8. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. 1.5. Quy trình tổ chức học hợp tác: Bước 1. Làm việc chung cả lớp - GV giới thiệu chủ đề cần thảo luận, nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ, yêu cầu cần đạt. - Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian và phân công vị trí làm việc cho các nhóm. - Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm (nếu cần). Bước 2. Làm việc theo nhóm - Lập kế hoạch làm việc - Thỏa thuận quy tắc làm việc - Phân công trong nhóm, giao nhiệm vụ từng cá nhân làm việc. - Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm. - Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm. Bước 3. Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp - Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm. - Các nhóm khác quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến. - GV tổng kết và nhận xét, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo. 2. Thực trạng về thực tiễn: Năm học 2020-2021, tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5A, Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan, với đặc điểm tình hình cụ thể như sau: Tổng số Nữ Dân tộc Nữ dân tộc Khuyết tật 27 11 27 11 0 Để nắm bắt cụ thể về thực trạng kĩ năng hợp tác của HS lớp 5A, tôi đã tiến hành khảo sát và đánh giá kết quả sau khảo sát cụ thể như sau: 2.1. Khảo sát thực trạng: a) Mục đích khảo sát: Tìm hiểu, đánh giá thực trạng kĩ năng hợp tác của HS từ đó đưa ra biện pháp giúp rèn kĩ năng hợp tác cho HS. b) Đối tượng khảo sát: 27 HS lớp 5A và 4 GV dạy phân môn lớp 5A trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan. c) Phương pháp khảo sát: GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 8
  9. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. - Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình học tập và hoạt động của học sinh lớp 5A qua các môn học. - Phương pháp điều tra bằng phiếu: tìm hiểu thực trạng kĩ năng học hợp tác của HS lớp 5A. - Phương pháp phỏng vấn: GV và HS lớp 5A tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS 2.2. Kết quả sau khảo sát: Sau khi tiến hành khảo sát, tôi đã tiến hành xử lí và thống kê đánh giá kết quả cụ thể như sau: * Thực trạng các kĩ năng học hợp tác của HS lớp 5A: Với việc quan sát quá trình học tập và hoạt động của HS trong các môn học qua dự giờ và trực tiếp giảng dạy, tôi đưa ra đánh giá theo bảng sau: Bảng 1. Đánh giá về mức độ đạt được các kĩ năng học hợp tác của HS lớp 5A Nhóm kĩ Các kĩ năng Mức độ năng học hợp tác Kĩ năng tốt Bước đầu Chưa có có kĩ năng kĩ năng SL % SL % SL % Hình - Di chuyển tạo nhóm 2 7,4 17 63 8 29,6 thành và - Giới thiệu bản thân tổ chức nhóm - Phân công nhiệm vụ Tương - Trình bày ý kiến cá nhân 7 25,9 12 44,5 8 29,6 tác - Lắng nghe - Đối thoại - Hỗ trợ bạn - Thái độ hợp tác Thưc - Quan sát 7 25,9 12 44,5 8 29,6 hiện - Tìm kiếm thông tin nhiệm vụ - Thao tác với dụng cụ học tập GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 9
  10. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. - Thực hiện báo cáo - Tóm tắt nội dung Đánh - Đánh giá và tự đánh giá 2 7,4 19 70,4 6 22,2 giá, - Nêu nhận xét phản hồi - Phản hồi ý kiến - Điều chỉnh Từ bảng điều tra trên, kết quả thu được cho thấy mức độ về kĩ năng học hợp tác của HS mới ở mức có kĩ năng, mức tốt chiếm tỉ lệ thấp, mức chưa có kĩ năng chiếm tỉ lệ khá cao. Điều đó chứng tỏ kĩ năng hợp tác của HS còn rất hạn chế. * Thực trạng về việc tổ chức dạy học hợp tác của 4 GV phân môn tại lớp 5A: Qua dự giờ, kết hợp phỏng vấn và quan sát về việc thực hiện tổ chức dạy học trên lớp của GV tại lớp 5A, tôi đã thống kê mức độ thực hiện tại bảng dưới đây: Bảng 2. Thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS trong dạy học của 4 GV Dạy học rèn kĩ năng hợp tác cho HS Mức độ thực hiện Thường Thỉnh Không bao xuyên thoảng giờ SL % SL % SL % Tổ chức dạy-học hợp tác 1 25 3 75 0 0 Sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực (Khăn 1 25 1 25 2 50 trải bàn, sơ đồ tư duy, mảnh ghép, ) Qua khảo sát theo bảng 2, ta thấy 100% GV đều đã tổ chức dạy học hợp tác. Tuy nhiên, việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực rất hạn chế, đa số GV chỉ tổ chức cho HS trao đổi miệng hoặc làm theo phiếu bài tập. Qua phỏng vấn và dự giờ một số tiết dạy của GV, tôi nhận thấy GV còn nhiều hạn chế về hiểu biết và vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực thế nên không sử dụng. Điều này dẫn đến kết quả của dạy học hợp tác đạt hiệu quả chưa cao, chưa phát triển được các kĩ năng trong hợp tác nhóm của HS. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 10
  11. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. Qua một thời gian giảng dạy,nắm bắt tình hình đối tượng học sinh của lớp mình kết hợp với khảo sát thực trạng, tôi nhận thấy những điểm mạnh và những hạn chế của học sinh về kĩ năng hợp tác nhóm đó là: a)Những điểm mạnh: - Đa số học sinh ngoan, biết vâng lời thầy cô, cha mẹ. - Một số em biết hợp tác cùng bạn để thực hiện nhiệm vụ học tập. - Một số em biết trình bày ý kiến của bản thân. - Tất cả học sinh đều thích tham gia hoạt động nhóm. b) Những hạn chế: - Đa số học sinh chưa biết cách làm việc nhóm. - Trong khi hoạt động nhóm, các em chưa biết phân công nhiệm vụ cho nhau và nhận nhiệm vụ của mình. - Chỉ một số ít học sinh tích cực tham gia phát biểu ý kiến, số còn lại chưa mạnh dạn nêu ý kiến của mình trong hoạt động nhóm. - Các thành viên trong nhóm không lắng nghe ý kiến của nhau để tham gia nhận xét, góp ý, chia sẻ về nội dung thảo luận. Thế nên kết quả của nhóm thường là kết quả của 1-2 cá nhân học sinh tích cực chứ không phải là kết quả của cả nhóm. - Đa số học sinh chưa phản hồi lại sau khi bạn nhận xét. - Học sinh chưa biết đưa ra lí lẽ để bảo vệ ý kiến của bản thân. - Không khí lớp học trầm, hiệu quả của hoạt động nhóm thấp, không phát huy được những điểm mạnh của dạy học hợp tác. Vậy nên việc tìm các biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh là hết sức cần thiết. II. Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho HS trong môn Tiếng Việt lớp 5: 1. Nội dung các biện pháp: 1.1 Thiết kế kế hoạch dạy học hợp tác: GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 11
  12. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. Bất kì một việc làm, hành động nào muốn đạt kết quả cao đều phải thiết kế kế hoạch cụ thể, rõ ràng. Muốn rèn kĩ năng hợp tác cho HS, GV cần thiết kế, kế hoạch dạy học hợp tác, cụ thể như sau: Bước 1: Xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt của bài học Dựa vào nội dung, chủ đề bài học và đối tượng HS để xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực cho HS. Trong đó, GV chú trọng các kĩ năng hợp tác cần rèn cho HS. Bước 2: Xác định nội dung tổ chức dạy học hợp tác GV lựa chọn nội dung phù hợp để tổ chức hoạt động nhóm. Có thể lựa chọn nội dung một bài học hay một hoạt động cụ thể để tổ chức hoạt động nhóm. Một số bài, nội dung có thể tổ chức dạy học hợp tác cho HS được gợi ý trong Kế hoạch lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho HS trong môn Tiếng Việt (Phụ lục 2). Ngoài những bài, nội dung được gợi ý trên, trong quá trình dạy học, GV linh động lựa chọn bài hoặc nội dung hoạt động tổ chức dạy học hợp tác sao cho phù hợp với đối tượng HS mình nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu đã xác định ở bước 1. Bước 3: Lựa chọn các PPDH kết hợp, các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học hợp tác Tùy vào mục tiêu, nội dung bài học, đặc điểm của học sinh, GV có thể kết hợp một số PPDH sao cho phù hợp như đàm thoại, làm mẫu, luyện tập,.... và một số kĩ thuật dạy học tích cực khác nhau như khăn trải bàn, sơ đồ tư duy, mảnh ghép,.... để phát triển kĩ năng học hợp tác cho HS. Bước 4: Dự kiến việc tổ chức học hợp tác - Chia nhóm: có nhiều cách chia nhóm, tùy theo yêu cầu của nhiệm vụ, đặc điểm của HS, GV lựa chọn chia nhóm sao cho phù hợp và tạo hứng thú cho HS. Có một số cách chia nhóm như sau: + Nhóm ngẫu nhiên: HS chia nhóm theo số điểm danh, theo màu sắc, theo các mùa, theo tên loài hoa, theo ghép tranh, theo sở thích, + Nhóm cố định: HS tạo nhóm theo bàn, 2 HS cùng bàn là 1 nhóm hoặc bàn trên với bàn dưới ghép thành 1 nhóm. + Nhóm theo trình độ: GV tạo nhóm cùng trình độ hoặc đa trình độ. - Dự kiến thời gian, vị trí làm việc: + Quy định về thời gian của hoạt động nhóm cụ thể, tránh tình trạng HS mất tập trung, làm việc riêng khi hợp tác. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 12
  13. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. + Vị trí làm việc: Quy định vị trí làm việc phù hợp, đảm bảo không gian thoải mái, dễ hoạt động cho các nhóm. Bước 5: Thiết kế, chuẩn bị các đồ dùng và các phương tiện cần thiết GV chuẩn bị các loại phiếu bài tập, phiếu thảo luận, Giao cho HS chuẩn bị các đồ dùng cần thiết khác như bút, thước, hồ dán, màu, Bước 6: Xác định các nhiệm vụ của GV, nhiệm vụ của HS trong dạy học hợp tác - Nhiệm vụ của GV: + Tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động. +Quan sát, hỗ trợ các nhóm làm việc + Động viên, khích lệ HS tham gia tích cực. + Hướng dẫn đánh giá kết quả của hoạt động. - Nhiệm vụ của HS: + Lắng nghe tích cực + Nhận nhiệm vụ và thực hiện nhiệm vụ + Tự đánh giá và tham gia đánh giá kết quả của hoạt động. + Tóm tắt nội dung của hoạt động. 1.2. Tổ chức và hướng dẫn HS học hợp tác Dựa trên kế hoạch dạy học đã thiết kế, GV tổ chức và hướng dẫn HS hoạt động nhóm theo các bước sau: Bước 1. Làm việc chung cả lớp - GV nêu mục tiêu, yêu cầu cần đạt của hoạt động nhóm: GV cần nêu một cách chính xác, rõ ràng, ngắn gọn. Đây là bước rất quan trọng bởi HS có nắm được mục tiêu, yêu cầu mới có thể tiến hành hoạt động. - GV tổ chức chia nhóm theo một trong các cách đã nêu ở mục 1.3. Quy định thời gian hoạt động, phân công vị trí làm việc cho mỗi nhóm. - Giao nhiệm vụ cho các nhóm, hướng dẫn thực hiện: + GV giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm: có thể giao bằng miệng với các yêu cầu ngắn, đơn giản, ít nội dung; đối với các yêu cầu phức tạp GV giao nhiệm vụ bằng phiếu. + GV hướng dẫn cụ thể, rõ ràng về cách thực hiện, thời gian hoàn thành nhiệm vụ. GV kết hợp hướng dẫn cách sử dụng đồ dùng và các phương tiện đã chuẩn bị. - Các nhóm nhận đồ dùng và các phương tiện cho hoạt động. Bước 2. Làm việc theo nhóm + Các nhóm ổn định, bầu nhóm trưởng và thư kí, đặt tên nhóm và tự giới thiệu trong nhóm. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 13
  14. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. - Nhóm trưởng điều khiển: + Lập kế hoạch làm việc + Thỏa thuận quy tắc làm việc + Phân công trong nhóm, giao nhiệm vụ từng cá nhân làm việc. - Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm: Tất cả các thành viên trong nhóm chủ động và tham gia tích cực hoàn thành nhiệm vụ được phân công. - Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm. Bước 3. Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp - Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm. - Các nhóm khác quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến. - GV hướng dẫn HS đánh giá kết quả, tóm tắt nội dung của hoạt động. Việc tổ chức và hướng dẫn HS học hợp tác phải được thực hiện thường xuyên và liên tục, có như vậy kĩ năng hợp tác của HS mới được hình thành, rèn luyện và phát triển. 1.3. Vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực rèn kĩ năng hợp tác cho HS Bất kì một PPDH nào, muốn đạt hiệu quả đều phải vận dụng các kĩ thuật dạy học phù hợp. Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp độc lập mà là những thành phần của phương pháp dạy học. Có rất nhiều kĩ thuật dạy học tích cực. Tùy theo nội dung hoạt động, đối tượng học sinh mình và điều kiện của trường, lớp, địa phương mà giáo viên có thể lựa chọn các kĩ thuật dạy học sao cho phù hợp. Một số kĩ thuật dạy học tích cực rèn cho HS kĩ năng hợp tác như: khăn trải bàn, sơ đồ tư duy, mảnh ghép, phòng tranh, bể cá, xyz, ổ bi, Căn cứ vào nội dung tình hình thực tế đối tượng học sinh lớp tôi, với 100% các em là học sinh dân tộc thiểu số tôi đã lựa chọn các kĩ thuật dạy học tích cực để rèn kĩ năng hợp tác cho các em trong môn Tiếng việt đó là: + Kĩ thuật “Mảnh ghép” + Kĩ thuật “Khăn trải bàn” kết hợp với kĩ thuật “Phòng tranh” + Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy” 1.3.1. Kĩ thuật “Mảnh ghép” GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 14
  15. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. a) Khái niệm:Mảnh ghép là một hoạt động nhóm yêu cầu học sinh nghiên cứu thông tin trong các nhóm nhỏ và chia sẻ những gì đã học được với các học sinh khác. Chủ đề của bài học được chia thành các chủ đề phụ do các nhóm ‘chuyên gia’ nhỏ tìm hiểu, nghiên cứu và hướng dẫn lại cho các học sinh khác trong các nhóm ‘mảnh ghép. Bằng cách này, học sinh dạy lẫn nhau và học một lượng lớn thông tin bằng cách chia sẻ công việc. b) Cách tiến hành: Giai đoạn 1: Nhóm chuyên gia (nhóm chuyên sâu) - Chia học sinh cả lớp thành các nhóm chuyên gia, số nhóm chuyên gia= số chủ đề x n (n=1,2, ), mỗi nhóm gồm 3-8 học sinh. - Giáo viên giao nhiệm vụ, cung cấp phiếu hoạt động và hướng dẫn thực hiện. - Các nhóm chuyên gia làm việc: + Mỗi thành viên trong nhóm tự làm việc/ hoặc làm việc theo phân công của nhóm trưởng về chủ đề được giao trong vài phút. + Trao đổi thống nhất kết quả trong nhóm. + Mỗi thành viên ghi lại kết quả thu được của nhóm vào phiếu, hoặc vở của mình. * Lưu ý: Trong khi các nhóm “chuyên gia” làm việc, giáo viên cần quan sát và hỗ trợ kịp thời để đảm bảo rằng học sinh tập trung thích hợp và có thể trình bày kết quả của mình cho các nhóm khác. Giai đoạn 2: Nhóm mảnh ghép - GV yêu cầu tạo nhóm mảnh ghép: Các học sinh trong mỗi nhóm chuyên gia được đánh số để thành lập các nhóm “mảnh ghép” mới. Mỗi nhóm mới bao gồm 1-2 thành viên của mỗi nhóm chuyên gia được thành lập để dạy và học lẫn nhau. + GV giao nhiệm vụ mới cho các nhóm mảnh ghép. + Các thành viên trong nhóm mảnh ghép chia sẻ với nhau về câu trả lời hoặc thông tin kết quả thu được ở nhóm chuyên gia. + Cùng nhau thực hiện nhiệm vụ mới. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 15
  16. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. * Học sinh trong nhóm mảnh ghép cần được khuyến khích đặt câu hỏi cho nhau và tham gia tranh luận. Sự hình thành các nhóm ‘mảnh ghép’ từ các nhóm ‘chuyên gia’ được minh họa trong sơ đồ sau. c) Lưu ý khi thực hiện: - Giáo viên cần giao nhiệm vụ rõ ràng cho từng nhóm chuyên gia và cho các nhóm mảnh ghép. - Thiết kế phiếu hoạt động và hướng dẫn thực hiện cụ thể. - Thông báo thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm để học sinh tập trung thực hiện nhiệm vụ tránh kéo dài. 1.3.2. Kĩ thuật “Khăn trải bàn” a) Khái niệm: là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm khuyến khích: - Tư duy độc lập. - Chia sẻ nhóm, thảo luận, tranh luận và thương lượng. - Học sinh phát huy ý tưởng của những người khác. - Học sinh phân tích và kết hợp các ý kiến chung. - Giao tiếp bằng lời nói và bằng văn bản. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 16
  17. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. b) Cách tiến hành: Bước 1: Tạo nhóm, nhận nhiệm vụ - Chia học sinh lớp thành các nhóm, mỗi nhóm 4 học sinh. - Nhận nhiệm vụ và hướng dẫn thực hiện từ giáo viên. - Các nhóm lấy dụng cụ học tập: giấy A0 hoặc bảng nhóm, bút/phấn, màu, Bước 2: Làm việc nhóm - Mỗi cá nhân suy nghĩ, ghi câu trả lời của mình vào ô được chỉ định trong vài phút. - Nhóm trưởng điều khiển lần lượt từng thành viên chia sẻ ý kiến trong nhóm, các thành viên khác thảo luận và thống nhất câu trả lời. - Thư kí ghi ý kiến chung của cả nhóm vào ô trung tâm. Bước 3: Chia sẻ trước lớp (sử dụng kĩ thuật “Phòng tranh”) - Các nhóm trưng bày sản phẩm trên bảng hoặc trên tường của lớp học. - Các nhóm khác đi tới nơi treo sản phẩm của các nhóm bạn để nhận xét và chia sẻ hoặc góp ý cho nhóm bạn có thể trao đổi trực tiếp bằng lời hoặc ghi chú vào một tờ giấy nhỏ dán bên cạnh sản phẩm của nhóm bạn. c) Những lưu ý khi thực hiện: - Giáo viên cần: + Giao một chủ đề. + Lập nhóm có tối đa 5 thành viên. GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 17
  18. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. + Cung cấp giấy. + Hướng dẫn cụ thể những việc cần làm. + Phát triển các câu hỏi khuyến khích các quá trình tư duy khác nhau. + Gợi nhắc học sinh thận trọng phân tích và so sánh các ý kiến. + Dành đủ thời gian suy nghĩ. - Một bước bổ sung sau khi học sinh viết ý tưởng của mình, là học sinh xoay tờ ‘khăn trải bàn’ này để có thể xem được công việc của một học sinh khác. Sau đó học sinh phản hồi lại những gì được viết trong phần giấy ở trước mặt. Các em có thể đồng ý, không đồng ý, hoặc tiếp tục với một suy nghĩ khác. Tiếp tục xoay khăn này cho đến khi mọi người đã có thể đọc và viết vào hết các phần. Sau đó, nhóm thảo luận về các ý tưởng và đi đến thống nhất về những gì sẽ viết ở giữa khăn trải bàn. 1.3.3. Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy” a) Khái niệm: Sơ đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề. Sơ đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bảng trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính. Học sinh có thể sử dụng sơ đồ tư duy theo nhiều cách khác nhau để: - Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề; - Trình bày tổng quan một chủ đề; - Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng; - Thu thập, sắp xếp các ý tưởng; - Ghi chép khi nghe bài giảng. b) Cách thực hiện: Bước 1: Tạo nhóm, nhận nhiệm vụ - Chia học sinh lớp thành các nhóm, mỗi nhóm 4-6 học sinh. - Các nhóm nhận nhiệm vụ và hướng dẫn thực hiện từ giáo viên. - Các nhóm lấy dụng cụ học tập: giấy A0 hoặc bảng nhóm, bút/phấn, màu, GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 18
  19. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. Bước 2: Làm việc nhóm - Nhóm trưởng điều khiển các thành viên thảo luận và thống nhất câu trả lời và ý tưởng trình bày kết quả thảo luận của nhóm. - Cả nhóm cùng nhau vẽ sơ đồ tư duy theo ý tưởng đã thống nhất (Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ vẽ, viết, tô màu, hoặc thành viên trong nhóm tự nhận nhiệm vụ của mình). - Nhóm cùng trao đổi cách đọc, trình bày sơ đồ tư duy sau khi hoàn thành. Bước 3: Chia sẻ trước lớp - Các nhóm cử đại diện trình bày kết quả của nhóm. - Các nhóm khác nhận xét và chia sẻ kết quả của nhóm mình. c) Những lưu ý khi thực hiện: Để xây dựng Sơ đồ tư duy, trước hết cần xác định nội dung chính và mục đích chính rồi viết ra giấy. Sau đó, xác định các chủ đề phụ và ghi lại những chủ đề này làm từ khóa trên các nhánh mở rộng từ chủ đề chính. Khám phá các chủ đề phụ bằng cách thêm nhiều nhánh hơn. Hình ảnh và màu sắc có thể được sử dụng để làm rõ hơn các chủ đề phụ và liên kết của chúng Học sinh có thể xây dựng bản đồ tư duy của riêng mình hoặc hoàn chỉnh khung bản đồ tư duy do giáo viên thiết kế hoặc thêm vào bản đồ tư duy đã hoàn chỉnh một phần do giáo viên cung cấp. Giáo viên quan sát, hỗ trợ các nhóm (nếu cần) để các nhóm thực hiện đúng chủ đề, nội dung của yêu cầu. Để các kĩ thuật dạy học đem lại hiệu quả trong việc rèn kĩ năng hợp tác cho HS, GV cần hướng dẫn cách thực hiện, cách làm việc với đồ dùng và các phương tiện đã chuẩn bị một cách cụ thể, có thể thực hiện mẫu nếu HS lúng túng, gặp khó khăn. 1.4. Xây dựng môi trường hợp tác tích cực Để HS tích cực, hứng thú học hợp tác cần có môi trường hợp tác tích cực. Môi trường hợp tác tích cực là môi trường học tập trong đó cần có sự chủ động, tích cực, tôn trọng, cởi mở và chia sẻ. Môi trường học hợp tác nhấn mạnh tầm quan trọng của học tập cùng nhau như một cộng đồng học tập; đặt HS vào GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 19
  20. SKKN: “Một số biện pháp rèn kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan trong môn Tiếng Việt”. trung tâm của việc học và khuyến khích sự tham gia tích cực của các em vào trong các hoạt động hợp tác nhóm. Môi trường hợp tác tích cực bao gồm môi trường vật chất và môi trường tinh thần. Hệ thống kĩ năng học hợp tác sẽ được hình thành và rèn luyện một cách hiệu quả với việc đáp ứng môi trường tinh thần và vật chất tốt. 1.4.1. Xây dựng môi trường tinh thần tốt để học sinh có thể làm việc nhóm hiệu quả nhất. Thể hiện trong mối quan hệ giữa GV với HS, giữa HS với HS a) Giữa GV với HS: - Đối với GV: + Luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện cho HS được chia sẻ, trao đổi thoải mái với nhau. + Tôn trọng ý kiến và quyết định về cách thức hoạt động của nhóm + Bao quát, theo dõi và giúp đỡ kịp thời các nhóm hay các cá nhân khi các em gặp khó khăn. + Lắng nghe ý kiến của HS, nếu các em trả lời chưa đúng thì GV sửa lại cho các em. + Không dùng lời lẽ chê bai hay trách phạt các em. - Đối với HS: + HS thực hiện theo hướng dẫn của GV. + HS chủ động chia sẻ ý kiến một cách tích cực. + Các em phản hồi ý kiến với GV để được hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời, biết điều chỉnh hành động khi được GV góp ý. + Nỗ lực hết sức để hoàn thành nhiệm vụ học tập. b) Giữa HS với HS: - Nhóm trưởng: + Phân công nhiệm vụ cho các bạn trong nhóm. + Điều khiển hoạt động nhóm theo hướng dẫn của GV. - Các thành viên trong nhóm: + Nhận nhiệm vụ, góp ý nếu thấy chưa phù hợp. + Gắng sức hoàn thành nhiệm vụ bản thân. + Thể hiện thái độ hợp tác tích cực, không chỉ cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình mà còn khích lệ, động viên các bạn trong nhóm cùng giải quyết nhiệm vụ. Không làm thay hay đùn đẩy việc cho bạn khác. + Biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau. Nếu bạn nói chưa đúng có thể giải thích cho bạn hiểu, kiểm soát cảm xúc bản thân. + Biết chấp nhận thành công hay sự chưa thành công hoạt động của nhóm mình, lắng nghe góp ý của nhóm khác. 1.4.2. Xây dựng môi trường vật chất phù hợp và an toàn: GV thực hiện: Bùi Bích Ngọc 20