SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_hoc_tot_mon_tieng_viet_c.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan I. PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết, bậc Tiểu học được coi là bậc học nền tảng của cả hệ thống giáo dục, trong đó lớp Một chính là phần móng của cái nền tảng ấy. Nền móng chắc thì mới đảm bảo cho phần kiến trúc bên trên được bền vững. Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy và học ở bậc Tiểu học nói chung và ở lớp Một nói riêng luôn là vấn đề thời sự, nó được các cấp giáo dục từ Trung ương đến cơ sở hết sức quan tâm và đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Bậc tiểu học đã tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho các em tiếp tục học các bậc học trên. Nội dung giảng dạy của tiểu học luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống, không chỉ có thế, mà mỗi môn học ở tiểu học theo chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 đều góp phần vào việc hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực của học sinh. Mà trong chương trình học Tiểu học, môn Tiếng Việt chiếm một vị trí quan trọng. - Tiếng Việt với tư cách là một môn xã hội có hệ thống kiến thức cơ bản và rất cần thiết cho đời sống con người. Đó cũng là công cụ cơ sở để học các môn học khác và để nhận thức thế giới văn học, vận dụng vào trong thực tế đời sống. Nó giúp con người phát triển tư duy, ngôn ngữ, bồi dưỡng vốn từ cần thiết để học sinh nhận thức văn học. Rèn luyện cho con người suy nghĩ nói năng, lưu loát, tự tin trong cuộc sống . - Học Tiếng Việt giúp cho con người rèn luyện một số đức tính tốt như: Tính kiên trì bền bỉ, tự giác, độc lập, sáng tạo để trở thành con người có ích cho xã hội nên việc tạo hứng thú để các em tích cực tham gia học tập môn Tiếng Việt là vô cùng cần thiết. Năm học 2020 -2021, là năm học đầu tiên thực hiện chương trình GDPT 2018 đối với lớp Một nên đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Từ tầm quan trọng của môn học này, bản thân tôi cũng luôn mong muốn góp những kinh nghiệm nhỏ bé của mình vào cái Đại dương mênh mông kiến thức về phương pháp dạy – học của nền giáo dục nước nhà. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan.”. Trong phạm vi nhỏ hẹp của đề tài này, tôi muốn đưa ra để trao đổi với các đồng nghiệp. 2/ Đối tượng nghiên cứu, khảo sát, thực nghiệm 2.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình Giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan. 2.2. Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 1A- Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan-xã Ia Chim-Thành phố Kon Tum. 1 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan 2.3. Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 1A - Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan - xã Ia Chim - Thành phố Kon Tum. 3/ Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp nghiên cứu, lí luận: Thu thập tài liệu, nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài, tìm hiểu sách giáo khoa Tiếng Việt 1 chương trình GDPT 2018. - Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động của học sinh để thu thập thông tin, phân loại đối tượng. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: tôi lựa chọn các kinh nghiệm của bản thân và đồng nghiệp có liên quan đến nội dung tôi nghiên cứu, phân tích những kinh nghiệm đó một cách khoa học và chọn những kinh nghiệm có khả năng ứng dụng rộng rãi làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình. - Phương pháp điều tra: Khảo sát, tìm hiểu thực tiễn ở lớp mình dạy, tìm hiểu về năng lực học mmo tiếng Việt của học sinh. - Phân tích sản phẩm hoạt động. - Tham khảo ý kiến chuyên gia. 4/ Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: - Tập trung nghiên cứu trong phạm vi: Học sinh lớp 1A- Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan- xã Ia Chim- Thành phố Kon Tum. - Kế hoạch nghiên cứu + Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021 + Thời gian bắt đầu: Từ tháng 9 năm 2020 + Thời gian kết thúc: Tháng 3 năm 2021 II. PHẦN NỘI DUNG 1/ Thực trạng vấn đề nghiên cứu 1.1. Cơ sở lý luận: Xuất phát từ mục tiêu chương trình GDPT 2018: Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của các em. Nên muốn cho các em thích học môn Tiếng Việt, thầy, cô giáo phải tìm mọi cách để gây hứng thú trong quá trình dạy học, gợi ra sự tò mò, ham hiểu biết, nắm được cái mới lạ mà giờ học Tiếng Việt sẽ đem lại cho các em. Chính vì vậy, Tiếng Việt được xem là môn học cơ sở của tất cả các môn học khác. Một điểm đổi mới trong phương pháp dạy học hiện nay luôn coi trọng việc lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò là người giúp các em đi đúng hướng, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo. Vì vậy, ở lớp Một, việc giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt là hết sức cần thiết. 2 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan Là một giáo viên chủ nhiệm và giảng dạy lớp 1, người trực tiếp và thường xuyên nhất tiếp xúc với các em học sinh. Tôi rất mong muốn học sinh của mình là những con ngoan, trò giỏi, tài đức vẹn toàn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan nói riêng và của Thành phố Kon Tum nói chung. Nên tôi luôn khắc sâu về nhiệm vụ của người giáo viên Tiểu học là: “Thực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục”. Mà trong đó Tiếng Việt là một trong những môn học được tôi chú trọng. 1.2.Cơ sở thực tiễn: a) Thuận lợi: Học sinh lớp 1A nằm ở địa phận thôn Plei Lay, gần trường nên việc đi lại của các em thuận lợi. Sĩ số học sinh 23 em, nữ 8 em , sĩ số lớp vừa phải nên có thời gian kèm cặp giúp đỡ từng em và thuận lợi trong việc bao quát lớp. Đa số các em đã được qua Mầm non và có được một số kĩ năng học tập cơ bản. Trước khi thực hiện chương trình GDPT 2018, từ ngày 30 tháng 8 năm 2020, tôi đã được nhà trường tạo điều kiện tham gia lớp tập huấn chương trình GDPT 2018 Mô đun 1(Hướng dẫn thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018), ngày 2 tháng 12 năm 2021, được tập huấn mô đun 2(Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh). Bước đầu nắm bắt được tinh thần của việc thay sách cũng như mục tiêu của chương trình GDPT 2018 cần đạt được. Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan là trường đạt chuẩn Quốc gia Mức độ 1, nên nhà trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng học tập của học sinh. Nhất là đối với học sinh lớp 1. Ngay từ đầu năm đã chỉ đạo khối tổ chức thao giảng, dự giờ để giáo viên học hỏi trau dồi kinh nghiệm lẫn nhau, thống nhất phương pháp dạy đồng bộ trong khối theo mục tiêu chương trình GDPT 2018, xây dựng tiết dạy tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Lớp dạy 2 buổi /ngày (9 buổi /tuần), cơ sở vật chất đủ đảm bảo cho hoạt động dạy - học. Bản thân giáo viên rất nhiệt tình trong giảng dạy, yêu nghề mến trẻ luôn gần gũi tìm hiểu hoàn cảnh từng em, thường xuyên liên hệ với phụ huynh trao đổi về việc học tập của các em. Trong các tiết dạy, luôn tốn nhiều thời gian giúp các em ôn tập hệ thống hóa lại những kiến thức cơ bản. Thông qua giảng dạy, tôi luôn nghiên cứu để rút ra một vài kinh nghiệm để giảng dạy môn Tiếng Việt đạt hiệu quả cao. b) Khó khăn: Trường tiểu học Phùng Khắc Khoan là một trường thuộc vùng ven thành phố Kon Tum, với 100% phụ huynh, học sinh là người dân tộc thiểu số, làm nghề nông nên điều kiện kinh tế của người dân nơi đây còn nhiều khó khăn, việc 3 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan dành thời gian chăm sóc cũng như chọn các biện pháp giáo dục cho con cái còn nhiều hạn chế, đa số các bậc phụ huynh chưa quan tâm đến việc ôn bài ở nhà của con em mình. Các em thì chưa xác định được việc học là quan trọng, dẫn đến đi học không chuyên cần, rồi một số em bỏ học đi chơi, đi mót mủ sao su, đi chăn bò, đi chơi game, một số em theo bố mẹ đi làm trên nương, rẫy xa, ... nên không chú tâm đến nhiệm vụ học dẫn đến chất lượng học tập chưa cao, trong đó có chất lượng môn Tiếng Việt. Năm học 2020-2021, là năm học đầu tiện thực hiện chương trình GDPT 2018 đối với lớp Một. Bên cạnh mục tiêu chương trình thì đòi hỏi phải có các trang thiết bị, đồ dùng dạy học phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới. Nhưng điều kiện của nhà trường còn khó khăn, cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn, chưa có các trang thiết bị cần thiết, chưa trang bị được ti vi cho các phòng học, chưa có các phòng chức năng để phục vụ cho công tác giảng dạy và các hoạt động vui chơi giải trí nhằm phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh cũng như thu hút học sinh ham muốn đến trường. Điều này ảnh hưởng đến chất lựơng dạy học. Thực tế học sinh ở lớp 1, độ tuổi vừa lên 6, các em còn rụt rè, bỡ ngỡ trong các hoạt động học tập, chưa tự tin thể hiện mình trước tập thể, chưa mạnh dạn trong phát biểu xây dựng bài nên việc tiếp thu bài cũng như tiếp thu môn Tiếng Việt còn hạn chế. Do các em mới chuyển giai đọan từ hoạt động vui chơi là chủ đạo sang hoạt động học là chủ đạo nên nhiều em chưa làm quen, bắt nhịp được với việc học tập đặc biệt là học môn Tiếng Việt (không phải là tiếng mẹ đẻ). Một số em tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng đọc, viết, nói, nghe còn hạn chế. Một số em chưa có động cơ học tập, chưa tự giác. Và do ngôn ngữ bất đồng nên việc truyền thụ kiến thức của giáo viên cho học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn. Qua kết quả tôi tự khảo sát đầu năm học: + Học sinh không thích học môn Tiếng Việt. (Thích học môn Âm nhạc, Mĩ thuật, Giáo dục thể chất). + Học sinh không thích hoạt động nhóm. + Học sinh ngồi học không tập trung hoặc tập trung không bền vững. (Hay quay qua quay lại, nói chuyện, làm việc riêng). + Học sinh đi học không chuyên cần ở buổi thứ hai. (Thói quen tự do, ngủ trưa dậy trễ, hoặc buổi chiều hay theo bố mẹ đi làm). + Chưa có nề nếp trong học tập và sinh hoạt. Từ những thực tế trên, để các em học sinh của mình bước vào nề nếp, ham muốn đến trường, ham học hỏi, chủ động tiếp thu bài và ngày càng nâng cao được chất lượng dạy và học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng. Là một giáo viên được phân công giảng dạy và chủ nhiệm lớp 1, tôi luôn mong mỏi bằng tất cả tâm huyết của mình có thể rèn luyện và giáo dục các em trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Chính từ những mong muốn đó, tôi đã thường xuyên 4 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan nghiên cứu, tìm tòi các giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt lớp Một (nhất là lớp Một đối với chương trình GDPT 2018 như hiện nay), góp phần nâng cao kết quả học tập của lớp mình. Sau đây là một số giải pháp tôi đã nghiên cứu và áp dụng tại lớp 1A mà tôi đang phụ trách: 2/ Các biện pháp thực hiện: 2.1. Nghiên cứu nắm vững nội dung chương trình môn Tiếng Việt - Sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt 1 thuộc bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” của NXB Giáo dục Việt Nam tiếp thu thành quả biên soạn SGK dạy học ngôn ngữ của nhiều nước tiên tiến, kế thừa kinh nghiệm biên soạn SGK dạy tiếng Việt ở Việt Nam qua nhiều giai đoạn với mong muốn đáp ứng được yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học tiếng Việt trong thời gian tới. 2.1.1. Quan điểm biên soạn: - Lớp 1 đánh dấu một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trong quá trình phát triển năng lực giao tiếp của HS, chuyển từ giao tiếp bằng ngôn ngữ nói vốn được hình thành và phát triển trong môi trường giao tiếp tự nhiên sang giao tiếp bằng cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong môi trường nhà trường có sự hướng dẫn của giáo viên, theo mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập do chương trình quy định. Ngoài yêu cầu đối với SGK Tiếng Việt nói chung, SGK Tiếng Việt lớp 1 chú trọng thoả đáng sự phát triển năng lực ngôn ngữ của HS ở giai đoạn chuyển tiếp này để bảo đảm sự phát triển ngôn ngữ ở các em diễn ra một cách tự nhiên với nhiều điều mới mẻ và thú vị, không căng thẳng và áp lực. Muốn vậy, hoạt động đọc, viết, nói và nghe cần phải được đặt vào ngữ cảnh giao tiếp tự nhiên và cần phải khai thác hiệu quả vốn tiếng Việt sẵn có trước khi đến trường của HS. 2.1.2. Những điểm mới cơ bản của SGK Tiếng Việt lớp 1 - Ngay từ những bài đầu tiên, sách đã đặt những âm chữ được học vào câu, gắn với một sự việc, trạng thái cụ thể. Như vậy, khác với nhiều cuốn SGK Tiếng Việt lớp 1 khác, ở giai đoạn đầu, dạy âm chữ chỉ gắn với từ ngữ (đơn vị định danh), cuốn sách Tiếng Việt 1 này dạy âm chữ gắn ngay với câu (đơn vị giao tiếp). Từ câu trọn vẹn để nhận biết âm chữ, vần; rồi từ âm chữ, vần ghép thành tiếng, từ ngữ, câu, đoạn. - Các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe được kết nối và dạy học tích hợp trong một bài học. Đến tập hai, trung tâm để tạo nên sự kết nối và tích hợp đó là văn bản thuộc các kiểu loại khác nhau. Trong sách Tiếng Việt 1 này, ở cả tập một và tập hai, người đọc không tìm thấy các phân môn mà chỉ nhìn thấy các hoạt động giao tiếp. Tuy sách không thiết kế nội dung dạy học theo các phân môn, nhưng sau khi thực hành giao tiếp trên cơ sở trung tâm của bài học là văn bản, học sinh sẽ đạt được tất cả những mục tiêu về phẩm chất và năng lực mà bài học đặt ra. - Ngữ liệu bảo đảm tỉ lệ cân đối, hài hoà giữa văn bản văn học và văn bản thông tin. Tăng thêm tỉ lệ văn bản thông tin và giảm tỉ lệ văn bản văn học so với các SGK Tiếng Việt lâu nay. 5 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan - Nội dung bài học được thiết kế dưới dạng các hoạt động, bắt đầu bằng các câu lệnh thể hiện yêu cầu mà người học cần phải thực hiện. Nhờ đó, HS có thể dùng sách để tự học, cha mẹ HS có thể giúp con mình học tập ở nhà, GV thuận lợi trong việc tổ chức các hoạt động dạy học. - Theo yêu cầu của chương trình mới, Tiếng Việt 1 chú ý dành thời gian cho hoạt động đọc mở rộng. Đây là hoạt động tạo cho HS có được cơ hội tự tìm thêm sách để đọc theo sở thích của bản thân với sự hướng dẫn, hỗ trợ và kiểm tra của GV. - Ngoài nội dung đặc sắc, sách còn có hình thức trình bày và tranh ảnh minh hoạ sinh động, hấp dẫn. HS sẽ cảm thấy thích thú với việc học tiếng Việt khi cầm bộ sách này trên tay và từng bước khám phá những bài học viết cho các em ở trong đó. 2.1.2. Cấu trúc sách và các bài học SGK Tiếng Việt 1 được chia thành 2 tập, tập một dành cho học kì 1 (18 tuần, trung bình mỗi tuần 12 tiết), tập hai dành cho học kì 2 (17 tuần, trung bình mỗi tuần 12 tiết). a) Tập 1: - Cấu trúc sách: Ngoài các bài học ở Tuần mở đầu - Chào em vào lớp 1 (giúp HS làm quen với môi trường và hoạt động học tập ở lớp 1) và Tuần ôn tập, 16 tuần còn lại có 80 bài, mỗi tuần có 5 bài, gồm cả bài Ôn tập và kể chuyện ở cuối tuần. Mỗi bài được dạy học trong 2 tiết, trình bày trong 2 trang sách, một trang chẵn và một trang lẻ. Ngoài ra, mỗi tuần còn có 2 tiết tập viết tăng thêm ngoài thời gian tập viết trong các bài học; trước khi viết, học sinh cũng được luyện đọc các từ ngữ luyện viết. Ngoài luyện viết và luyện đọc, thời gian còn lại của 2 tiết (nếu có) có thể dành để HS làm các bài tập nối, điền, được thiết kế trong Vở bài tập Tiếng Việt 1, tập một. - Cấu trúc bài học: Thứ tự các hoạt động + Các bài học về âm: Nhận biết, Đọc (âm/vần, tiếng, từ), Tô và viết, Đọc (câu/đoạn ngắn) + Các bài học về vần: Nhận biết, Đọc (vần, tiếng, từ), Viết, Đọc (đoạn) + Các bài ôn tập và kể chuyện: Đọc (âm, vần, tiếng, từ, câu, đoạn), Viết, Kể chuyện. b) Tập 2: - Cấu trúc sách: Có 8 bài lớn, mỗi bài được dạy học trong 2 tuần (24 tiết). Các bài lớn được thiết kế theo hệ thống chủ điểm. Với hệ thống chủ điểm có “độ phủ” rộng, kết hợp với kênh hình được thiết kế công phu, Tiếng Việt 1 đáp ứng giáo dục HS những vấn đề có tầm quan trọng đối với thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay, như chủ quyền quốc gia, nhân quyền (quyền trẻ em), bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, - Cấu trúc bài học: Trong mỗi bài lớn thường có đủ các kiểu loại văn bản cơ bản: truyện, thơ, văn bản thông tin. Mỗi văn bản đọc là trung tâm của một bài 6 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan nhỏ. Khởi đầu bài học là hoạt động khởi động nhằm huy động trải nghiệm, hiểu biết và tạo tâm thế để HS đọc hiểu văn bản tốt hơn. Sau đó là đọc thành tiếng, đọc hiểu. Riêng đối với văn bản thơ, HS được nhận biết vần và học thuộc lòng. Đối với văn bản văn xuôi, HS được thực hành viết câu, nói và nghe, nghe viết chính tả, làm bài tập chính tả. Đôi khi có hoạt động kể chuyện hay đóng vai diễn lại câu chuyện đã đọc. Cuối mỗi bài học có thể có hoạt động tích hợp, mở rộng, vận dụng đa dạng. Việc nghiên cứu nắm vững nội dung chương trình SGK giúp giáo viên nắm được quy trình và sự liên liếp của các mạch kiến thức phục vụ cho công tác giảng dạy đạt hiệu quả cao. 2.2. Tìm hiểu học sinh, hoàn cảnh gia đình: Ngay từ khi nhận lớp, tôi làm quen với học sinh để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình. Tạo mối quan hệ thân mật gần gũi, vui vẻ, trực tiếp hỏi về gia đình, bản thân học sinh. Nhằm kịp thời giúp đỡ những em có khó khăn về đồ dùng học tập như: sách giáo khoa, vở, bút... Khi xếp chỗ ngồi cho học sinh, chú ý những học sinh có sức khoẻ yếu (A An), học sinh mắc bệnh về tai, mắt, học sinh có tầm vóc thấp (A Thú, Y Hiểu Di, A Đưng) xếp bên trên, những học sinh chậm hoàn thành, hiếu động (A Mãi, A Kso Sáng, Y Khi) được xếp vào hàng giữa để tiện theo dõi. Giáo viên cũng xếp xen kẻ học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập với học sinh chưa hoàn thành để các em có điều kiện giúp đỡ nhau trong học tập. Việc này tạo điều kiện rất thuận lợi để các em chậm hoàn thành trong các tiết học có thể trao đổi hỏi bài khi các em chưa hiểu. Ngoài ra, để đảm bảo thông tin hai chiều, tôi thường xuyên gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh học sinh về việc học tập cũng như những dấu hiệu bất thường ở các em. Việc này góp phần nâng cao chất lượng học tập trong đó có chất lượng môn Tiếng Việt. 2.3. Xây dựng lớp học thân thiện - học sinh tích cực Đối với học sinh lớp Một, đi học thực sự là một bước ngoặc có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển trí tuệ, tâm lý và nhân cách của các em. Đa số các em chuyển từ Mầm non sang Tiểu học nên còn bỡ ngỡ, rụt rè, lạ lẫm, chưa thích ứng được với môi trường mới, kém hứng thú với hoạt động học tập. Để các em thêm yêu thích lớp học, coi đây là ngôi nhà thứ hai của mình. Việc đầu tiên phải làm đó là: “Xây dựng lớp học thân thiện”. Tôi đã vận động các em đem cây xanh (Y Bứ, A Siu Chê, A Lê Sách), cây hoa (Y Nhung, Y Hiểu Di, A Đào) và những vật dụng của địa phương (A Than, Y Ka Diễm, A Mach) mà các em có (quả bầu đựng nước, cái giỏ, các rổ,...) lên lớp rồi cùng các em trang trí lớp học. Tuy đơn sơ nhưng đây là kết quả thật sự của các em nên sẽ giúp các em biết yêu quý, chăm sóc, tự hào về lớp học của mình và cùng nhau giữ gìn, bảo vệ. Thông qua việc xây dựng lớp học thân thiện cũng góp phần không nhỏ đến việc gây hứng thú học tập và sự ham muốn được đến trường của học sinh, tăng tỉ lệ học sinh đi học chuyên cần, góp phần nâng cao chất lượng học tập nói chung và chất lượng môn Tiếng Việt nói riêng. 7 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan Tạo bầu không khí vui vẻ, gần gũi, tôn trọng học sinh để các em cảm nhận đuợc sự thỏa mái khi tham gia việc học tập của mình. Nhẹ nhàng uốn nắn, sửa sai cho học sinh kịp thời, thường xuyên. Khen ngợi, động viên khi các em tiến bộ dù là rất nhỏ, để các em tự tin hơn, giúp các em thấy được thế mạnh của mình, đồng thời tạo dựng cho các em lòng tin vào bản thân, xóa đi nỗi lo âu, sợ hãi trong lòng khi các em không làm được bài. Trong lớp, tôi luôn nhắc nhở các em phải xưng hô với bạn bè đúng mực. Nhắc nhở các em thực hiện tốt nội quy của trường, của lớp. Biết đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập cũng như khi tham gia các hoạt động của lớp. Những điều này tác động không nhỏ đến kết quả học tập của học sinh. Lớp học do cô và trò trang trí 2.4. Tổ chức cho học sinh hoạt động tự phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức. Chúng ta đều biết rằng, trong tiết học giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn. Học sinh là chủ thể trong mọi hoạt động. Người giáo viên cần phải biết phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Cần thực hiện “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, giáo viên luôn tạo mọi điều kiện để học sinh tự giải quyết vấn đề của bài học. Giáo viên không nên cung cấp kiến thức trực tiếp cho học sinh, mà kiến thức đến với học sinh phải có sự tham gia đắc lực, sự tương tác chủ động của các em đối với các nhóm học tập, các bạn, với cô giáo Từ những câu hỏi mở, bằng sự quan sát trên đồ dùng dạy học mà dẫn dắt các em vào vấn đề. Từ đó các em tự phát hiện và rút ra được kiến thức cơ bản, trọng tâm. Có như vậy các em mới khắc sâu và nhớ lâu kiến thức hơn để phát triển các phẩm chất và năng lực của mình. Nhất là đối với chương trình GDPT 2018 như hiện nay. Yêu cầu giáo viên phải sử dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức và kĩ thuật dạy học nhằm phát triển các phẩm chất, năng lực của học sinh. 8 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan 2.5. Dạy học môn Tiếng Việt thông qua đồ dùng dạy học Để theo kịp sự phát triển của xã hội và cung cấp cho học sinh những thông tin mới nhất trong một thời gian có hạn.Vậy việc đổi mới phương pháp dạy học luôn là một vấn đề bức xúc và được mọi người quan tâm. Thực tế cho thấy việc dạy học nói chung và dạy học ở Tiểu học nói riêng đã có nhiều đổi mới về phương pháp. Nhưng phương pháp dạy học kích thích tính tự tìm tòi và học hỏi của học sinh đặc biệt được chú trọng đó là việc sử dụng thiết bị đồ dùng trong tiết dạy. Chính vì vậy đồ dùng dạy học là những phương tiện vô cùng quan trọng và cần thiết giúp cho giáo viên và học sinh tổ chức hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục. Đối với các môn học trong nhà trường nhằm thực hiện chương trình dạy học, đồ dùng dạy học là một trong các yếu tố quan trọng. Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, đồ dùng dạy học giúp giáo viên và học sinh huy động mọi năng lực nhận thức, tiếp cận nhận thức, nâng cao khả năng tự học, rèn luyện kỹ năng học tập và thực hành. Giúp học sinh nắm bắt kiến thức một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Từ chỗ tận mắt các em nhìn, tự tay các em thực hành dẫn đến các em chiếm lĩnh kiến thức một cách tự giác, không bị gò ép, áp đặt, hơn nữa giúp các em khắc sâu kiến thức hơn. Ngoài ra, dưới sự điều kiển của giáo viên, thiết bị đồ dùng dạy học thể hiện khả năng sư phạm của nó như: Làm tăng tốc độ truyền thông tin, tiết kiệm thời gian giải thích dài dòng, tạo sự lôi cuốn hấp dẫn làm cho giờ học thêm sinh động. Nếu việc dạy chay, dạy suông làm cho người học tiếp thu thụ động không phát huy được tính tích cực, sáng tạo thì thiết bị đồ dùng là cầu nối giữa người dạy và người học. Làm cho hai nhân tố này gắn kết với nhau trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục và giảng dạy. Trong dạy học môn Tiếng Việt lớp Một thì đồ dùng trực quan chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Năm học 2020 -2021, là năm học đầu tiên thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 1 nên đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Bên cạnh việc thay đổi sách giáo khoa đòi hỏi phải thay đổi một số phương tiện và đồ dùng dạy học cho phù hợp. Nhưng khó khăn hiện nay của nhà trường là chưa có các trang thiết bị, đồ dùng dạy học theo chương trình mới. Nên trong các tiết học chưa tạo được sự hứng thú cho các em, các em tiếp thu bài chậm, mau quên các âm vần đã học. Từ những khó khăn này, tôi đã tận dụng lại những đồ dùng dạy học của các năm học trước như bộ mẫu chữ viết và bộ thực hành môn Tiếng Việt lớp 1. Ví dụ: Để học sinh nhận biết các âm, khi dạy âm nào tôi thường sử dụng mẫu chữ viết âm đó gắn lên bảng cho học sinh thực hành quan sát, ghi nhớ mẫu chữ đó gồm mấy nét, là những nét nào nhằm kích thích sự hứng thú ghi nhớ của học sinh. 9 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan Học sinh quan sát chữ mẫu Để tìm tiếng có âm vừa học (tiếng: bò), tôi cho học sinh sử dụng bộ thực hành Tiếng Việt, việc đầu tiên là yêu cầu các em tìm âm vừa được học (âm o) ra xếp lên bàn, sau đó hướng dẫn các em tìm một phụ âm đã học và dấu thanh để ghép thành tiếng “bò” theo câu hỏi gợi ý của giáo viên (Ta có âm o, muốn có tiếng bò ta thêm âm gì đứng trước âm o và thanh gì?)... Tương tự hướng dẫn cho học sinh sử dụng bộ thực hành để mở rộng, ghép thành nhiều tiếng hay từ theo mục tiêu của bài học giúp các em phát triển tư duy sáng tạo và hình thành kĩ năng tự học góp phần phát triển năng lực của học sinh. Học sinh thực hành ghép tiếng mới 10 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan Hơn thế nữa, đối tượng học sinh lớp Một của trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan là 100% học sinh người dân tộc thiểu số, Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của các em nên vốn từ của các em còn hạn chế, việc tiếp thu bài còn chậm, khả năng tư duy chưa cao. Nên ngoài việc sử dụng các đồ dùng trên, trong một số bài học tôi còn khai thác, sử dụng các đồ vật thật gần gũi với các em để giới thiệu giúp các e tìm ra âm, tiếng hay từ ứng dụng của bài học. Ví dụ: ca, cà, cái ô, bí đỏ, đu đủ, củ sả, lá mía, ... Qua các đồ vật trực quan giúp các em nhanh chóng chiếm lĩnh được kiến thức, tạo hứng thú cho các em trong học tập. Như vậy, để dạy học có hiệu quả người giáo viên phải luôn nghiên cứu bài, đầu tư làm và sưu tầm đồ dùng dạy học để phục vụ trong mỗi tiết dạy. Nhưng cũng đòi hỏi người giáo viên phải biết khai thác triệt để và sử dụng khéo léo các đồ dùng đó vào tiết dạy sao cho đạt hiệu quả cao. 2.6. Sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngoài việc sử dụng các đồ dùng trực quan, tôi còn chú trọng vận dụng ứng dụng công nghệ thông tin (ƯDCNTT) trong dạy học môn Tiếng Việt để mang lại sự hứng thú cho các em trong học tập. Vì hiện nay công nghệ 4.0 là phương pháp giáo dục của thời đại mới, ứng dụng hiệu quả của công nghệ 4.0 vào giáo dục giúp học sinh có được sự hứng thú khi học tập. Bên cạnh đó, công nghệ còn giúp tối ưu hóa thời gian dạy học mà vẫn đạt được hiệu quả tối đa trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh. Chính vì vậy, để các tiết học của môn Tiếng Việt diễn ra sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh, giúp các em hiểu bài nhanh chóng mà không mất thời gian giải thích dài dòng, không tốn kém nhiều kinh phí cho việc in tranh ảnh, khắc phục những hạn chế về trang thiết bị và đồ dùng dạy học của trường tôi như hiện nay, đồng thời thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của chương trình GDPT 2018, tôi đã mạnh dạn đưa ƯDCNTT vào dạy học, cụ thể ở môn Tiếng Việt như sau: 2.6.1. Sử dụng ƯDCNTT vào hoạt động khởi động: Có nhiều hình thức để khởi động kết nối vào bài mới, như: - Khởi động kết hợp với âm nhạc. - Khởi động bằng hình thức trò chơi. - Khởi động bằng quan sát tranh ảnh. Ví dụ 1: Khởi động kết hợp với âm nhạc Bài 2: Âm B b ` (SGK Tiếng Việt lớp 1/ tập 1, trang 16-17) Học sinh nghe nhạc và hát theo bài: Cháu yêu bà. Qua bài hát học sinh ôn lại âm a qua câu hỏi gợi ý của giáo viên. + Tên bài hát các con vừa nghe là gì? + “Cháu yêu bà” có âm gì các con đã học? Qua việc nghe nhạc và hát theo sẽ tạo được sự hứng thú, không khí sôi nổi cho lớp học hơn là các em tự hát chay. Thông qua việc khởi động thành công đưa các em đến với bài mới một cách nhẹ nhàng phấn khởi, tạo tâm thế học tập tốt, tiếp thu bài nhanh và hiệu quả hơn. 11 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan Học sinh tham gia khởi động Ví dụ 2: Khởi động bằng hình thức trò chơi (“Giải ô chữ” trong bài phần vần) Bài 52: ut ưt. (SGK Tiếng Việt lớp 1/ tập 1, trang 116-117) - Giáo viên tổ chức trò chơi: Giúp học sinh tìm từ có tiếng chứa vần đã học (vần et, êt) qua các ô chữ ở hàng ngang rồi tìm ra từ khóa ở hàng dọc. - Gợi ý bằng các câu hỏi: + Câu hỏi hàng ngang: Câu 1. Ngày tết, ngoài bánh chưng người Việt Nam thường có loại bánh gì? Câu 2. Con vật gì có nhiều chân, có nọc độc, em cần tránh xa? Câu 3. Mùa gì dịu nắng Mây nhẹ nhàng bay Gió khẽ rung cây Lá vàng rơi rụng. (Là mùa nào?) Sau khi tìm được các ô chữ hàng ngang, học sinh nêu từ khóa hàng dọc. Nếu học sinh chưa tìm được, giáo viên gợi ý bằng câu hỏi hàng dọc. + Câu hỏi hàng dọc: Ngày lễ cổ truyền lớn nhất của dân tộc Việt Nam? b á n h t é t c o n r ế t m ù a t h u 12 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan Qua việc sử dụng ô chữ để trình chiếu và hướng dẫn cho cho học sinh tìm ra số chữ cái có trong từng tiếng hay từ sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn là kẻ bảng hay viết bảng phụ đồng thời giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian. Ví dụ 3: Khởi động bằng hình thức quan sát tranh, ảnh. Bài 32: on ôn ơn. (SGK Tiếng Việt lớp 1/ tập 1, trang 76-77) Ngoài hai cách khởi động trên, giáo viên có thể chiếu một số hình ảnh yêu cầu học sinh quan sát và tìm ra từ có tiếng chứa vần đã học. Hình 1: quả nhãn Hình 2: con trăn Hình 3: bàn chân Qua tranh ảnh, giúp học sinh hứng thú và phát triển kĩ năng quan sát, giải quyết vấn đề nhanh chóng. Tóm lại qua việc sử dụng ƯDCNTT trong giảng dạy môn Tiếng Việt phần khởi động rất có ý nghĩa, tạo tâm thế sẵn sàng cho học sinh tiếp nhận kiến thức mới một cách chủ động hơn. Cụ thể: Khi chưa sử dụng ƯDCNTT Khi sử dụng ƯDCNTT Khi chưa sử dụng ƯDCNTT, hoạt Khi sử dụng ƯDCNTT vào hoạt động khởi động chỉ được lặp đi lặp lại động khởi động của các tiết học không bằng những bài hát, những động tác tay những giúp giáo viên tiết kiệm được đơn giản. Nhiều em tham gia là để cho thời gian mà còn làm cho các em hào có hay vì sợ cô mà tham gia chứ chưa hứng, phấn khởi trong hoạt động khởi gây được hứng thú cho các em khi sang động, tạo ra hứng thú học tập góp hoạt động bài mới. phần mở đầu tiết học một cách nhẹ nhàng, tinh thần thỏa mái, tiếp thu bài nhanh và hiệu quả hơn. 2.6.2. Sử dụng ƯDCNTT vào một số hoạt động trong dạy học bài mới: a. Nhận biết: Ở học kì 1, trong mỗi bài học phần âm và vần đều bắt đầu bằng hoạt động nhận biết, hoạt động này yêu cầu học sinh quan sát tranh và nói hoặc đọc theo giáo viên câu thuyết minh. Ở hoạt động này giáo viên phải tạo cho học sinh có hứng thú khám phá bài học thì tiết học mới đạt được hiệu quả. Ví dụ: Bài 32: on ôn ơn. (SGK Tiếng Việt lớp 1/ tập 1, trang 76-77) - Giáo viên cho học sinh nghe nhạc tiếng chim sơn ca hót qua video. 13 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan - Nhận biết được đó là tiếng chim sơn ca. - Giáo viên dùng câu hỏi gợi ý để rút ra câu nhận biết chứa tiếng có vần mới trong bài. Nếu đơn thuần chỉ quan sát tranh trong sách giáo khoa thì các em sẽ ít tham gia tương tác mà chỉ làm việc riêng lẻ. Vì vậy khi giáo viên trình chiếu video lên sẽ giúp học sinh cả lớp tập trung tham gia học tập, qua đó các em sẽ hứng thú hơn và tạo tâm thế học tập tốt hơn góp phần mang lại hiệu quả cho tiết học. Hình minh họa học sinh nghe tiếng chim sơn ca hót b. Đọc (âm/vần, tiếng, từ): Trong hoạt động đọc có đọc âm/vần, tiếng, sau đọc tiếng có từ ứng dụng. Có những từ ta dùng vật thật để giới thiệu nhưng có những từ phải sử dụng tranh để giúp các em nhận biết, đọc đúng. Khi chưa có ƯDCNTT thì giáo viên chỉ cho học sinh quan sát tranh trong sách giáo khoa hoặc phải in tranh để giới thiệu, hay thường giải thích các từ bằng lời nói. Khi vận dụng ƯDCNTT để trình chiếu các video, tranh ảnh vào dạy học giúp ích rất nhiều cho giáo viên, giáo viên có thể dùng tranh để giải thích các tiếng, từ giúp các em hiểu được nghĩa của từ đó mà không phải giải thích dài dòng, từ đó giúp các em khắc sâu hơn kiến thức vừa học. Nhất là đối với học sinh người dân tộc thiểu số ở lớp 1A, trường tiểu học Phùng Khắc Khoan, vốn Tiếng Việt của các em còn hạn chế. Ví dụ: Bài 32: on ôn ơn. (SGK Tiếng Việt tập 1/tập 1, trang 76-77) Ngoài vật thật giáo viên dùng để giới thiệu từ mới như: chiếc nón, những từ còn lại giáo viên không thể sử dụng vật thật để giới thiệu giúp học sinh dễ dàng nhận ra từ ngữ cần tìm, thì giáo viên có thể sử dụng video để hỗ trợ cho việc tìm từ như: con chồn, sơn ca. Ngoài những từ có trong sách giáo khoa, giáo viên có thể sử dụng một số tranh ảnh hay video để mở rộng vốn từ. 14 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan Ví dụ: Giáo viên sử dụng video giới thiệu cơn mưa để học sinh tìm từ có tiếng chưa vần ơn hoặc vần ưa (cơn mưa). Sau đó, sử dụng tranh giới thiệu về nông thôn để học sinh tìm từ có chứa vần ôn (nông thôn). Hình 1: cơn mưa Hình 2: nông thôn c. Nói theo tranh: Ví dụ: Bài 9: Ơ ơ ~ ( SGK Tiếng Việt 1/tập 1,trang 30-31) Giáo viên giới thiệu một đoạn video giúp học sinh nhận biết tên các phương tiện giao thông, sự khác nhau giữa các phương tiện giao thông đó. Qua việc sử dụng ƯDCNTT trong hoạt động này giúp học sinh nhận biết phong phú các phương tiện giao thông hơn là quan sát tranh trong sách giáo khoa. Và qua hoạt động này giáo viên kết hợp giáo dục an toàn cho học sinh khi tham gia giao thông. Tranh trong SGK HS xem video các phương tiện giao thông d. Kể chuyện: (Bài ôn tập và kể chuyện) Trong bất kỳ một tiết kể chuyện nào, việc dựa vào tranh để kể lại nội dung câu chuyện theo từng tranh là rất cần thiết. Với điều kiện của trường tôi như hiện nay, chưa có tranh để hổ trợ cho giáo viên dạy hoạt động kể chuyện. Nên trong các tiết học chưa thu hút được sự tập trung, hứng thú của các em. Để khắc 15 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan phục hiện trạng đó, trong giảng dạy tôi đã sử dụng ƯDCNTT bằng cách khai thác tranh ảnh và lời kể mẫu câu chuyện trên trang “hành trang số”. Việc làm này giúp giáo viên tiết kiệm thời gian, chi phí, qua lời kể mẫu thu hút được sự chú ý lắng nghe của học sinh giúp học sinh có hứng thú và mong muốn kể lại được nội dung câu chuyện theo lời kể mẫu. Ví dụ: Bài 30: Ôn tập và kể chuyện (SGK Tiếng Việt 1/tập 1, trang 72- 73)-Hoạt động 3: Kể chuyện “Kiến và dế mèn”. Trong hoạt động này, tôi sử dụng ƯDCNTT vào: - Kể toàn bộ câu chuyện: sử dụng video lời kể mẫu câu chuyện từ “hành trang số”, học sinh lắng nghe. - Kể từng đoạn: sử dụng tranh trên “hành trang số” để kể lại từng đoạn kết hợp đặt câu hỏi giúp học sinh nắm được nội dung của mỗi đoạn theo tranh. (4 tranh minh họa cho câu chuyện “Kiến và dế mèn”) đ. Ngoài việc ƯDCNTT vào các hoạt động trên, tôi còn sử dụng ƯDCNTT vào làm bài tập: Dạng bài: Chọn chữ phù hợp thay cho bông hoa hay thay cho ô vuông: Ví dụ: bài “Nụ hôn trên bàn tay”: (SGK Tiếng Việt lớp 1/tập 2, trang 24-27) Giáo viên tạo hiệu ứng PowerPoint để chiếu lên rồi hướng dẫn cho học sinh sẽ thuận tiện hơn là viết bảng hay làm bảng phụ. 16 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan e. ƯDCNTT trong hoạt động giáo dục học sinh: Theo một số chủ điểm thường có yêu cầu hát một số bài hát về chủ điểm đó. Như chủ điểm : Mái ấm gia đình Ví dụ 1: Bài 1: Nụ hôn trên bàn tay (SGK Tiếng Việt lớp 1/ tập 2, trang 24- 27), yêu cầu hát một bài hát về mẹ. Giáo viên giới thiệu và cho HS nghe bài hát “Mẹ” qua video giáo viên tải về. Ví dụ 2: Bài 4: Quạt cho bà ngủ (SGK Tiếng Việt lớp 1/ tập 2, trang 34- 35), yêu cầu hát một bài hát về tình cảm bà cháu. Giáo viên giới thiệu và cho HS nghe bài hát “Cháu yêu bà” qua video giáo viên tải về. Qua video bài hát giúp HS học tập sôi nổi, hứng thú, nhanh thuộc bài hát. Giáo viên cũng có thể kết hợp giáo dục HS biết yêu thương bà và mẹ. 2.6.3. Sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động củng cố kiến thức: Ngoài việc sử dụng ƯDCNTT trong hoạt động khởi động và dạy học bài mới, việc vận dụng ƯDCNTT trong việc củng cố bài cũng rất cần thiết và mang lại hiệu quả cao cho tiết học. Ví dụ: Bài 48: at ăt ât. (SGK Tiếng Việt 1/tập 1, trang 108-109) Giáo viên vận dụng trò chơi: Hộp thư bí mật. Yêu cầu học sinh chọn hộp thư bất kì, giáo viên mở hộp thư đó và cho học sinh đọc nội dung có trong hộp thư. Hình: Hộp thư bí mật Nhưng học sinh lớp 1 dễ mất tập trung nên việc sử dụng ƯDCNTT trong dạy học phải phù hợp mới mang lại hiệu quả. Ngược lại, nếu lạm dụng quá mức, sử dụng không linh hoạt sẽ mang lại “kết quả” không được như mong muốn, làm giảm đi quá trình tương tác cần thiết giữa thầy và trò. Bởi trong quá trình giáo dục, học sinh là nhân tố trung tâm, người giáo viên phải đóng vai trò khơi gợi, dẫn dắt học sinh tiếp cận với tri thức. Tóm lại, sau khi nghiên cứu và vận dụng biện pháp ƯDCNTT vào dạy môn Tiếng Việt giúp tôi khắc phục được tình trạng thiếu đồ dùng dạy học như hiện nay. Còn các em thì hứng thú trong học tập, yêu thích môn học, ham muốn đến trường. Thể hiện qua bảng đo mức độ hứng thú của học sinh như sau: 17 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan ĐẦU NĂM HỌC CUỐI HỌC KÌ I MỨC ĐỘ HỨNG THÚ SL TL % SL TL % Rất thích học môn TV 1 4,5% 8 36,4% Thích học môn TV 3 13,6% 10 45,5% Bình thường 10 45,5% 4 18,2% Không thích học môn TV 8 36,4% 0 0% 2.7. Tăng cường tổ chức hoạt động nhóm. Cuộc sống hiện đại với nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức đòi hỏi con người phải cùng hợp tác để cùng phát triển và cùng chia sẻ những thành công. Vì vậy, việc giáo dục cho các em tinh thần hợp tác là một trong những mục tiêu cần đạt của ngành giáo dục hiện nay. Với lứa tuổi của các em là học sinh lớp Một vùng dân tộc thiểu số, ban đầu các em còn e dè, ngại ngùng khi trao đổi bài cùng nhau nên ý thức hợp tác nhóm rất hạn chế, thời gian thảo luận các em dễ xao nhãng sang việc khác nên tôi gặp không ít khó khăn trong quá trình tổ chức cho các em hoạt động. Vì vậy tôi càng tăng cường và tổ chức thường xuyên cho các em hoạt động nhóm trong các tiết học (không riêng môn Tiếng Việt mà ở tất cả các môn học). Chính vì vậy vai trò của nhóm trưởng là rất cần thiết. Nhóm trưởng có nhiệm vụ điều hành nhóm thảo luận, sau đó trình bày trước lớp, các em trong nhóm hoặc nhóm khác có nhận xét, bổ sung, trao đổi với nhau. Vai trò nhóm trưởng cũng được tôi luân phiên thay đổi trong các buổi thảo luận khác nhau để các em rụt rè, nhút nhát có cơ hội được trình bày trước tập thể. Trong thời gian đầu, tôi đã gặp rất nhiều khó khăn nhưng sau nhiều lần luyện tập các em đã quen dần với cách làm việc này, nhiều em mạnh dạn hơn, tự tin hơn khi trình bày ý kiến của mình. Qua đó đã phát huy được tính tích cực, tự chủ cũng như tinh thần hợp tác trong học tập của các em. Thông qua việc thảo luận nhóm giúp các em hoàn thành bài nhanh còn giúp các em tăng cường khả năng giao tiếp Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Và phương pháp dạy học theo nhóm đã đáp ứng được điều đó. HS hoạt động nhóm 18 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan 2.8. Tổ chức trò chơi học tập. Học tập luôn là một nhiệm vụ nặng nề với học sinh. Vì thế, những tiết học có lồng ghép các trò chơi luôn mang lại sự hứng thú cho các em. Với tâm lý học sinh lớp Một, sự chiến thắng hay được khẳng định mình trước tập thể là một thành tích rất lớn. Vì thế, các trò chơi học tập, cùng thi đua luôn tạo cho các em sự phấn khích, hứng thú tham gia các hoạt động học. Bên cạnh các trò chơi mang tính cá nhân, tôi cũng thường chọn những trò chơi mang tính đồng đội có nhiều học sinh cùng tham gia để tạo điều kiện cho những em rụt rè được tham gia chơi. Trong quá trình cùng tham gia các em nhận được sự động viên của cô giáo, sự giúp đỡ của bạn bè các em sẽ mạnh dạn hơn và tự tin hơn. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học các môn học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng. Chương trình GDPT 2018, trong dạy học môn Tiếng Việt lớp Một chúng ta có thể vận dụng rất nhiều trò chơi học tập vào tiết học, nhưng đòi hỏi người giáo viên phải biết linh hoạt lựa chọn và tổ chức các trò chơi cho phù hợp mới mang lại hiệu quả cao cho tiết học. Đối với lớp tôi, khi chưa tổ chức các trò chơi trong các tiết học môn Tiếng Việt, lớp học trầm, học sinh không hứng thú, đôi khi còn làm việc riêng. Sau khi tôi chọn và lồng ghép một số trò chơi học tập vào tiết học, thì các em tham gia rất sôi nổi, hào hứng, thi đua để dành chiến thắng. Qua trò chơi còn giúp các em khắc sâu được kiến thức góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực của các em. HS tham gia trò chơi tiếp sức 19 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng
- Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1A Trường Tiểu học Phùng Khắc Khoan 2.9. Xây dựng đôi bạn cùng tiến. Tục ngữ có câu “Học thầy không tày học bạn” điều đó cũng một phần nào đúng khi các em cùng độ tuổi, gần gũi nhau về tâm lý các em sẽ có sự thuận lợi khi vui chơi, học tập cùng nhau. Phát huy điều đó, trong lớp tôi thành lập những đôi bạn cùng tiến. Một em hoàn thành tốt ngồi bên cạnh một em chưa hoàn thành. STT Họ tên HS giúp đỡ bạn Họ tên HS được giúp đỡ 1 Y Bứ A Than 2 Y My Ra Y Nhung 3 A Đào Y A Thú 4 Y Ka Diễm Y Khi 5 A Tăng A Mãi Em học sinh hoàn thành tốt sẽ theo dõi và giúp đỡ bạn trong khi các bạn học chậm trình bày bài trong vở chưa đẹp, nhắc nhở khi bạn chưa hoàn thành bài và giúp bạn luyện đọc, ôn bài trong những lúc ra chơi. Sự gần gũi, quan tâm lẫn nhau sẽ giúp các em xây dựng được mối quan hệ thân thiết. Đến nay những em được giúp đỡ đã có nhiều tiến bộ trong học tập cũng như mạnh dạn hơn trong giao tiếp với bạn, các em có ý thức hơn và có trách nhiệm hơn với việc học của mình. Đồng thời những em được phân công giúp đỡ bạn cũng biết chia sẻ và thông cảm với những khiếm khuyết của người khác. Từ đó, có ý thức xây dựng và giúp đỡ những người xung quanh. Để mọi người cùng có ý thức trách nhiệm và cùng nhau tiến bộ đó là mục tiêu lớn chúng ta đạt được. Đôi bạn cùng tiến 20 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hồng

