Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Tiết 11+12: Bài ca ngắn đi trên bãi cát
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Tiết 11+12: Bài ca ngắn đi trên bãi cát", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_lop_11_tiet_1112_bai_ca_ngan_di_tren_bai_c.pdf
Nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Tiết 11+12: Bài ca ngắn đi trên bãi cát
- Tiết 11+12:
- I. TÌM HIỂU CHUNG: 1. Tác giả: - Cao Bá Quát (1809?-1855), tự là Chu Thần ; hiệu là Cúc Đường, Mẫn Hiên - Quê: Gia lâm, Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội). - Là một người có tài cao; nổi tiếng văn hay chữ tốt và có uy tín trong giới trí thức đương thời, được tôn là“Thần Siêu, Thánh Quát.
- I. TÌM HIỂU CHUNG 1.Tác giả: - CBQ là người có khí phách hiên ngang, có tư tưởng tự do, ôm ấp hoài bão lớn, mong muốn sống có ích cho đời - Thơ văn ông bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ PK trì trệ, bảo thủ, chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX
- Cao Bá Quát (1809? - 1855)
- I. TÌM HIỂU CHUNG 2. Văn bản: a) Hoàn cảnh ra đời: “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” có thể được hình thành trong những lần CBQ đi thi Hội qua những tỉnh miền Trung đầy cát trắng b) Thể loại: thể hành (còn gọi là ca hành): thể thơ cổ, không gò bó về số câu, độ dài của câu, gieo vần linh hoạt
- II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN 1. Bốn câu đầu: Tiếng khóc cho cuộc đời dâu bể -Tả thực: +Bãi cát: . Trường sa phục trường sa: Tác giả lặp lại từ „„trường sa‟‟- bãi cát dài, gợi lên hình ảnh bãi cát dài mênh mông, nối tiếp nhau gợi ra con đường cát dường như bất tận, mờ mịt (đặc trưng của thiên nhiên ở 1 số tỉnh miền Trung)
- 1. Bốn câu đầu:Tiếng khóc cho cuộc đời dâu bể: - Tả thực: +Người đi trên cát: . Đi một bước như lùi một bước: bước đi trầy trật , khó khăn. . Mặt trời đã lặn chưa dùng được: tất tả đi không kể thời gian . Lữ khách trên đường nước mắt rơi: nỗi mệt mỏi, chán ngán, đau khổ ở lữ khách
- 1. Bốn câu đầu:Tiếng khóc cho cuộc đời dâu bể: - Ý nghĩa tượng trưng: + Bãi cát dài mênh mông tượng trưng cho con đường công danh xa xôi, mờ mịt + Người đi trên bãi cát dài nhọc nhằn tượng trưng cho con đường công danh của tác giả mờ mịt, gập ghềnh, trắc trở, khó khăn
- 1. Bốn câu đầu:Tiếng khóc cho cuộc đời dâu bể: => Sự tất tả, bươn bả, dấn thân để mưu cầu sự nghiêp công danh ở tác giả
- 2.Tám câu tiếp: Tiếng thở than, oán trách bởi ý thức về mâu thuẫn giữa khát vọng , hoài bão của mình và thực tế cuộc đời trớ trêu, ngang trái: - “Không học ... khôn vơi” CBQ sử dụng điển tích “ông tiên ngủ kĩ”: ông ước muốn mình trở thành ông tiên có phép ngủ kĩ ”; nỗi chán nản vì tự mình hành hạ thân xác ; theo đuổi công danh .
- 2.Tám câu tiếp: Tiếng thở than, oán trách bởi ý thức về mâu thuẫn giữa khát vọng , hoài bão của mình và thực tế cuộc đời trớ trêu, ngang trái: - “Xưa nay... tỉnh bao người?” Tác giả dùng câu hỏi tu từ, hình ảnh ẩn dụ (hơi men rượu) để thể hiện sự chua xót và phê phán sự việc: xưa nay, đa số con người bị cám dỗ rất lớn của bả công danh, những người ham danh lợi thì lợi dụng công danh để có danh lợi. Danh lợi cám dỗ con người như quán rượu ngon mà đa số người đời chạy ngựơc chạy xuôi, đổ xô tìm đến rồi làm say trong khi đó người tỉnh lại rất ít.
- 2.Tám câu tiếp: Tiếng thở than, oán trách bởi ý thức về mâu thuẫn giữa khát vọng , hoài bão của mình và thực tế cuộc đời trớ trêu, ngang trái: -“Bãi cát dài, bãi cát dài ơi đâu ít?” Câu hỏi tu từ và câu cảm thán: tác giả thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt giữa việc đi tiếp hay dừng lại từ bỏ con đường công danh, nếu đi tiếp thì cũng không biết phải đi như thế nào vì đường bằng phẳng thì mờ mịt còn đường ghê sợ thì nhiều
- 2.Tám câu tiếp: Tiếng thở than, oán trách bởi ý thức về mâu thuẫn giữa khát vọng , hoài bão của mình và thực tế cuộc đời trớ trêu, ngang trái: => Sự chán ghét của Cao Bá Quát đối với danh lợi, khao khát XH được tốt đẹp và tiến bộ hơn: chí nam nhi và nhân cách thanh cao của nhà nho CBQ. Nhà thơ thể hiện nỗi băn khoăn, trăn trở về con đường công danh mà mình đang theo đuổi trong XH bất công bấy giờ.
- 3. Bốn câu cuối:Tiếng kêu bi phẫn, bế tắc, tuyệt vọng: - “Hãy... dào dạt‟‟: miêu tả thiên nhiên hùng vĩ và hiểm trở; đồng thời cũng tượng trưng cho con đường công danh của CBQ đầy khó khăn. Ông băn khoăn giữa chọn con đường ở ẩn để giữ trọn khí tiết với chọn con đường mà ông đang đi và ông cảm thấy mình bây giờ đang bế tắc „„cùng đường‟‟, chưa tìm được con đường phù hợp. - “Anh đứng làm chi trên bãi cát?”: câu hỏi, cũng như là mệnh lệnh cho bản thân tác giả phải thoát ra khỏi bãi cát công danh đầy nhọc nhằn, đầy chông gai mà vô nghĩa trong XH bấy giờ.
- 3. Bốn câu cuối:Tiếng kêu bi phẫn, bế tắc, tuyệt vọng: => Hình tượng tác giả lẻ loi đầy trăn trở, tuyệt vọng nhưng vừa quả quyết trên con đường đi tìm chân lí.
- III. TỔNG KẾT 1. Nghệ thuật: - Sử dụng thơ cổ thể; hình ảnh có tính biểu tượng. - Thủ pháp đối lập; sáng tạo trong dùng điển tích. 2. Ý nghĩa văn bản: Khúc bi ca mang đậm tính nhân văn của một con người cô đơn,tuyệt vọng trên đường đời thể hiện qua hình ảnh bãi cát dài, con đường cùng và hình ảnh người đi đường.

