Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_lop_11_thuc_hanh_ve_su_dung_mot_so_kieu_ca.pdf
Nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn Lớp 11 - Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản
- THỰC HÀNH VỀ SỬ DỤNG MỘT SỐ KIỂU CÂU TRONG VĂN BẢN
- I. Dùng kiểu câu bị động: 1/ a. “Không, hắn..... nhiều.” b. Chuyển câu bị động sang câu chủ động có nghĩa cơ bản tương đương. + Không, chưa một người đàn bà nào yêu hắn cả, vì thế mà bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. c. Hắn chỉ thấy nhục chớ yêu đương gì. Không, chưa một người đàn bà nào....nhiều. Đoạn văn vẫn đảm bảo liên kết chặt chẽ về nội dung cũng như hình thức. 2/ Câu bị động là: “Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà”” làm rõ câu bị động trước nó “mà còn ai nấu cho mà ăn nữa”
- II.Dùng kiểu câu khởi ngữ: Khởi ngữ: là thành phần câu đứng trước chủ ngữ để nêu đề tài được nói đến trong câu. 1a. +Thế là trời vừa sáng, thị đã chạy đi tìm gạo. + Hành thì nhà thị may lại còn. Câu “ Thế là...gạo” làm rõ ý và liên kết với câu trên “Đang ốm thế thì ...đó mà” câu không có khởi ngữ không có tác dụng nhấn mạnh ý.
- 2. Lựa chọn câu thích hợp điền vào chỗ trống Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: “ Cô có cái nhìn sao mà xa xăm” 3.a.Tự tôi - nó được ngắt bằng dấu phẩy với các thành phần khác của câu.Tác dụng là nhấn mạnh về một phạm vi hoạt động thường xuyên có ý thức tự giác của Bác Hồ. b.Cảm giác, tình tự, đời sống cảm xúc. Ngăn cách với các thành phần khác bằng dấu phẩy nhằm nhấn mạnh nội dung chính của văn nghệ cần phải đề cập.
- + Tônxtôi nói vắn tắt: Ngăn cách với các thành phần khác bằng dấu hai chấm - nhấn mạnh chủ thể lời nói. III. Dùng kiểu câu có trạng ngữ chỉ tình huống: 1. Phần in đậm là: + Hãy dừng yêu => có cấu tạo là động từ. + Thấy thị hỏi (cũng có cấu tạo là động từ)
- Chuyển phần in đậm về sau chủ ngữ: +Thị nghĩ bụng: để hỏi cô Thị đã, hãy dừng yêu. Giống câu nguyên bản giữ nguyên từ ngữ khác ở nhấn mạnh nội dung: nguyên bản nhấn mạnh “Hãy dừng yêu”. Chuyển sang cuối câu lại nhấn mạnh “để hỏi cô thị đã” + Bà già kia bật cười, thấy thị hỏi. Bà tưởng cháu bà nói đùa => Nếu để nguyên bản nhấn mạnh tình huống “Thấy thị hỏi” về cuối câu – “ bà già kia bật cười”.
- 2. Nghe tiếng An, Liên đứng dậy trả lời - nó phù hợp với văn cảnh. Trường hợp đầu, thừa từ “khi”; trường hợp 2, thừa từ “Liên”; trường hợp 4, người nghe hiểu nhầm: An đứng dậy trả lời. 3. “ Nhận được phiến trát của Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường” -> Trạng ngữ chỉ tình huống - đây là thông tin thứ yếu.Thông tin quan trọng là hỏi thầy thư lại để khẳng định nội dung của phiến trát. Vì vậy thông tin thứ yếu thường đặt ở đầu câu.
- IV. Tổng kết về việc sử dụng ba kiểu câu trong văn bản: a.Thành phần chủ ngữ trong kiểu câu bị động thường đứng ở giữa câu trong các kiểu câu chứa chúng. Nó chỉ những thông tin đã biết. VD:Tốt nghiệp thành chung, Nam Cao được người bác họ đưa vào Nam sinh sống. b.Thành phần khởi ngữ thường đứng ở đầu câu, ngăn cách với các thành phần câu bằng dấu phẩy. VD:Tôi mong đồng bào ai cũng tập thể dục.Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập.
- “Tự tôi”- đầu câu. Nó liên kết với câu trước và thể hiện ý thức tự giác về tập thể dục. Nó làm rõ đề tài cần bàn đến là ý thức tự giác về tập thể dục của mọi người. c. Trạng ngữ chỉ tình huống đứng ở đầu hoặc cuối câu. Nó chỉ là thông tin phụ trong câu chứa nó. Thành phần này góp phần làm phong phú thêm sắc thái, hành động của chủ ngữ.

