Bài giảng Ngữ văn Lớp 10 - Tiết 34+35: Nhàn
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn Lớp 10 - Tiết 34+35: Nhàn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_lop_10_tiet_3435_nhan.pdf
Nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn Lớp 10 - Tiết 34+35: Nhàn
- Tiết 34-35 Nguyễn Bỉnh Khiêm
- I. TÌM HIỂU CHUNG: 1) Tác giả: - Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ, quê ở Hải Phòng. Ông đỗ Trạng nguyên năm 1535, làm qua dưới triều Mạc. Ông là người thông minh, uyên bác, chính trực, coi thường danh lợi.
- - Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm gồm: tập thơ chữ Hán là Bạch Vân am thi tập, tập thơ chữ Nôm là Bạch Vân quốc ngữ thi. Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí, giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, phê phán những điều xấu xa trong xã hội.
- 2) Văn bản: - Xuất xứ: Nhàn là bài thơ Nôm trong Bạch Vân quốc ngữ thi. - Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật. - Nhan đề Nhàn: nhàn rỗi, thanh nhàn -> một quan niệm, một cách xử thế: sống hòa hợp với tự nhiên, phủ nhận danh lợi, giữ cốt cách thanh cao.
- II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN : 1)Hai câu đề: “Một mai, ..vui thú nào”. - Điệp số từ “một”. - Liệt kê các danh từ chỉ dụng cụ lao động: mai, cuốc, cần câu. - Từ láy “thơ thẩn”: lối sống thảnh thơi, nhàn nhã.
- MAI Cuốc Cần câu
- - Nhịp thơ chậm: thể hiện trạng thái thong thả, thoải mái. -> Nguyễn Bỉnh Khiêm sống nhàn nhã, thảnh thơi, vô sự trong lòng, ung dung trong phong thái, vui với thú điền viên mặc cho ai vui thú nào.
- 2) Hai câu thực: “Ta dại, lao xao”. - Nghệ thuật đối: ta dại – người khôn, nơi vắng vẻ - chốn lao xao. - Hình ảnh tượng trưng: “nơi vắng vẻ”: nơi tĩnh tại của thiên nhiên, nơi thảnh thơi của tâm hồn; “chốn lao xao”: chốn cửa quyền, nơi bon chen danh lợi.
- - Cách nói vui đùa ngược nghĩa của Nguyễn Bỉnh Khiêm: dại mà thực chất là khôn, còn khôn mà hóa dại (Theo NBK: cái khôn của người thanh cao là quay lưng lại với danh lợi, sống ung dung hòa hợp với tự nhiên, tìm sự thư thái của tâm hồn) -> Nguyễn Bỉnh Khiêm có trí tuệ sáng suốt, tự nhận dại về mình, nhường khôn cho người, xa lánh danh lợi bon chen, tìm về “nơi vắng vẻ”, sống hòa nhập với thiên nhiên để “di dưỡng tinh thần”.
- 3) Hai câu luận: “Thu ăn hạ tắm ao”. Cuộc sống của NBK ở quê là: - Thu ăn măng trúc . Đông ăn giá ->Thức ăn quê mùa dân dã, mùa nào thức ấy. -Xuân tắm hồ sen . Hạ tắm ao ->Sinh hoạt hòa hợp với thôn quê.
- => Nguyễn Bỉnh Khiêm sống đạm bạc mà thanh cao. Ông sống thuận theo lẽ tự nhiên, hưởng những thứ có sẵn theo mùa ở nơi thôn dã mà không phải mưu cầu tranh đoạt.
- 4) Hai câu kết: “Rượu, ..chiêm bao”.
- Nhà thơ với nhãn quan tỏ tường, trí tuệ uyên thâm, tìm đến “say” để “tỉnh”. Ông tỉnh táo mượn điển cố Thuần Vu Phần để nêu lên triết lý: danh lợi, của cải, quyền quý chỉ là giấc chiêm bao (trí tuệ sáng suốt giúp nhà thơ có cách sống đúng và nâng cao nhân cách của bản thân). -> Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn cuộc đời là giấc mộng, phú quý tựa chiêm bao.
- III. TỔNG KẾT: 1) Nghệ thuật: - Sử dụng phép đối, điển cố. - Ngôn từ mộc mạc, tự nhiên mà ý vị, giàu chất triết lí. 2) Ý nghĩa văn bản: Vẻ đẹp nhân cách của tác giả: thái độ coi thường danh lợi, luôn giữ cốt cách thanh cao trong mọi cảnh ngộ đời sống.

