8 Đề ôn tập học kì II môn Ngữ văn Lớp 11

docx 18 trang tieumy 30/12/2025 190
Bạn đang xem tài liệu "8 Đề ôn tập học kì II môn Ngữ văn Lớp 11", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docx8_de_on_tap_hoc_ki_ii_mon_ngu_van_lop_11.docx

Nội dung tài liệu: 8 Đề ôn tập học kì II môn Ngữ văn Lớp 11

  1. ĐỀ ÔN TẬP HỌC KÌ II – NGỮ VĂN 11 ĐỀ 1 I. Phần đọc – hiểu: (5.0 điểm) Học sinh đọc văn bản: VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG TA Tác giả: Nguyễn Đình Thi (1) Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều Quê hương biết mấy thân yêu Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau Mặt người vất vả in sâu Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn (2) Đất nghèo nuôi những anh hùng Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên Đạp quân thù xuống đất đen Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa Việt Nam đất nắng chan hoà Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh Mắt đen cô gái long lanh Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung (3) Đất trăm nghề của trăm vùng Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem Tay người như có phép tiên Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ (4) Nước bâng khuâng những chuyến đò Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi Đói nghèo nên phải chia ly Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường (5) Ta đi ta nhớ núi rừng Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô Bữa cơm rau muống quả cà giòn tan... 1
  2. Trích từ trường ca Bài thơ Hắc Hải (1958). Trả lời câu hỏi sau: Câu 1. (1.0đ) Xác định thể thơ. Nêu phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản. Câu 2. (1.0đ) Tìm trong khổ (1) những hình ảnh đã làm nên vẻ đẹp của quê hương đất nước? Câu 3. (1.0đ) Trong khổ (2), tác giả đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp nào của người Việt Nam? Câu 4. (1.0đ) Xác định biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong khổ (5), nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó. Câu 5. (1.0đ) Nêu khái quát nội dung bài thơ. II. Phần Viết (5.0 điểm): Từ nội dung đọc-hiểu trên, em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về tình yêu dành cho quê hương, đất nước. -HẾT- 2
  3. ĐỀ 2 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (5.0 đ) Đọc bài thơ « Quê hương » của tác giả Tế Hanh và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới: Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới: Nước bao vây cách biển nửa ngày sông. Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá: Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió... Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. “Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Câu 1. (1.0đ) Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Phương thức biểu đạt chính của bài thơ? Câu 2. (1.0đ) Dòng thơ đầu tiên trong bài có vai trò gì đối với cả bài thơ? Câu 3. (1.0đ) Những người dân chài trong bài thơ được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào? Em có nhận xét gì về vẻ đẹp của những người dân chài trong bài thơ? Câu 4. (1.0đ) Chỉ ra những hình ảnh được sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong những dòng thơ sau, nêu tác dụng của việc sử dụng của biện pháp tu từ so sánh đó: Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió. Câu 5. (1.0đ) Thông điệp em rút ra từ văn bản là gì? 3
  4. II. PHẦN VIẾT (5.0 điểm) Từ nội dung đọc-hiểu bài thơ “Quê hương” – Tế Hanh, em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải siêng năng lao động trong cuộc sống. -HẾT- 4
  5. ĐỀ 3 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (5.0 đ) Đọc bài thơ «Lính đảo hát trường ca trên đảo » - Trần Đăng Khoa và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới: Đá san hô kê lên thành sân khấu Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng Đá củ đậu bay như lũ chim hoang Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn... Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc Người xem ngổn ngang cũng... rặt lính trọc đầu Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau Những lúc vui cứ gọi đùa sư cụ Là bà con xa với bụt ốc đây mà Thôi lặng yên nghe. Có gì đang sóng sánh Hoá ra là sư cụ hát tình ca Cái giai điệu ngang tàng như gió biển Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi Đêm buông xuống nhìn nhau không rõ nữa Cứ ngỡ như đảo đá cất thành lời... Rằng có đêm trăng dắt em đi dạo Gương mặt em dịu dàng. Hàng cây cũng tươi xinh Mở mắt chung chiêng nghe lưng trời sóng vỗ Và tay mình lại nắm lấy tay mình Người yêu chúng anh ơi, các em ở phương nào? Các em cao hay lùn? Có trời mà biết được Bóng dáng nào sẽ đến với chúng anh? Trông bốn phía chỉ âm u mây nước Nào hát lên cho mây nước biết Rằng chúng ta là những con người 5
  6. Yêu em thủy chung hơn muối mặn Dù thư tình chưa biết gửi cho ai... Nào hát lên cho đêm tối biết Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau Ngoài mép biển, người đâu lên đông thế Ồ, hoá ra toàn những đá trọc đầu... Đảo Sơn Ca, tháng 5-1982 Câu 1. (1.0đ) Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Phương thức biểu đạt chính của bài thơ? Câu 2. (1.0đ) Tìm chi tiết thể hiện ngoại hình của người lính đảo? Nêu nhận xét của em về những người lính đảo qua những chi tiết vừa tìm được. Câu 3. (1.0đ) Nội dung chính của bài thơ? Câu 4. (1.0đ) Xác định 1 BPTT lặp cấu trúc đã sử dụng trong bài thơ? Hiệu quả của biện pháp lặp cấu trúc đó? Câu 5. (1.0đ) Thông điệp em rút ra từ văn bản là gì? II. PHẦN VIẾT (5.0đ) Từ nội dung đọc-hiểu bài thơ “Lính đảo hát trường ca trên đảo” – Trần Đăng Khoa, em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của đất nước. -HẾT- 6
  7. ĐỀ 4 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (5.0 điểm) Đọc bài thơ sau: Em sẽ kể anh nghe Chuyện con thuyền và biển: 4-1963 “Từ ngày nào chẳng biết Thuyền nghe lời biển khơi Cánh hải âu, sóng biếc Đưa thuyền đi muôn nơi Lòng thuyền nhiều khát vọng Và tình biển bao la Thuyền đi hoài không mỏi Biển vẫn xa... còn xa Những đêm trăng hiền từ Biển như cô gái nhỏ Thầm thì gửi tâm tư Quanh mạn thuyền sóng vỗ Cũng có khi vô cớ Biển ào ạt xô thuyền (Vì tình yêu muôn thuở Có bao giờ đứng yên?) Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết Thuyền đi đâu, về đâu Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau - rạn vỡ Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió” Nếu phải cách xa anh Em chỉ còn bão tố 7
  8. (Thuyền và biển – Xuân Quỳnh. Nguồn: thivien.net) Câu 1. (1.0 điểm) Xác định thể thơ của bài thơ trên. Câu 2. (1.0 điểm) Em hiểu như thế nào về hình ảnh “Biển bạc đầu thương nhớ” và “Lòng thuyền đau - rạn vỡ” trong khổ thơ thứ bảy? Câu 3. (1.0 điểm) Xác định 02 hình ảnh mang tính tượng trưng chủ yếu trong bài thơ trên. Những hình ảnh đó tượng trưng cho điều gì? Câu 4. (1.0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ chủ yếu ở hai khổ thơ cuối. Câu 5. (1.0 điểm) Bài học có ý nghĩa nhất em rút ra từ bài thơ trên? Vì sao? II. PHẦN VIẾT (5.0 điểm) Từ nội dung Đọc hiểu bài thơ Thuyền và biển của Xuân Quỳnh, em hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của mình về tình yêu tuổi học trò. -----Hết----- 8
  9. ĐỀ 5 I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (5.0 điểm) Đọc truyện ngắn sau: Mùa hè năm nay, Tâm và vợ chàng về nghỉ mát ở nhà một người bạn ở vùng thôn quê. Khi người bạn mời thì Tâm nhận lời ngay, vì chàng tính được chỗ nghỉ mát suốt một tháng hè không phải mất tiền, vả lại tiện hơn nữa, chàng có dịp về thăm nhà cũng ở gần đó. [ ] Có đến năm, sáu năm nay, Tâm không về thăm quê nhà. Trong thời gian ấy, ở Hà Nội, Tâm gắng sức làm việc để giành một cái địa vị trong xã hội. Chàng lấy vợ, con một nhà giàu có, cũng không cho mẹ biết. Thỉnh thoảng chàng nhận được ở nhà quê gửi ra một bức thư mà chữ viết non nớt nguệch ngoạc, và lời lẽ quê kệch. Tâm chỉ đọc thoáng qua rồi không để ý đến. Sống trong hoàn cảnh giàu sang chắc chắn, Tâm không bao giờ nghĩ đến quê nhà nữa. Hoặc có nghĩ đến, chỉ để lại tự chế riễu mình, khi còn nhỏ, đã có cái đời ở thôn quê là giản dị, và sung sướng. Chàng mơ màng yêu một cô thôn nữ, và ước mong cùng nhau sống trong cảnh thanh bạch dưới một túp lều tranh. Cái mộng ấy, bây giờ làm chàng khi nghĩ đến mỉm cười. Không còn một cái liên lạc gì ràng buộc Tâm với thôn quê nữa. Những người họ hàng ở làng chỉ làm chàng sinh ghét, vì những sự đi lại nhờ vả lôi thôi. Còn đối với mẹ chàng, Tâm tin rằng đã làm đủ bổn phận khi mỗi tháng gửi về giúp bà cụ một số tiền, chàng lại càng tin như vậy lắm, khi nghĩ đến những cái khó khăn chàng phải vượt qua để có số tiền ấy. Bao nhiêu sự dối trá chàng phải cần đến để giấu không cho vợ biết! Có khi chàng nghĩ giận bà mẹ, vì bà mà chàng phải giấu diếm như thế. Tuy vậy, khi đến gần đầu làng, Tâm trong lòng cũng thấy cảm động. Hai bên cánh đồng lúa xanh gió đưa như nổi sóng. Trên đường giải đá, mặt đất khô rắn lại và nứt nẻ nhiều chỗ. Tâm nhớ lại cái đất ấy đã làm đau đớn bàn chân non nớt của chàng khi còn nhỏ ngày ngày cắp sách đi học. [ ] Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân đồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ. Tâm cất tiến gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước. Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt: – Con đã về đấy ư? – Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? – Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được, vì Tâm thấy cái lãnh đạm của mình. – Bà ở đây một mình thôi à? Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng: – Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi. – Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? Tâm nhớ mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng. Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi. Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp: 9
  10. – Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó không chịu lấy. – Bà cụ yên lặng một lát. – Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy. Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người. Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi: – Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa? Tâm nhìn ra ngoài đáp: – Như thường rồi. – Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi: – Ở làng có việc gì lạ không? Bà cụ trả lời: – Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm. Có tiếng người đi ở ngoài vườn. Bà cụ ngừng lại: Có lẽ nó về đấy. Rồi bà cụ cất tiếng gọi: – Trinh đấy phải không con? Vào đây, có cậu Tâm vừa về chơi. Một thiếu nữ lách cửa liếp bước vào. Tâm trông ra thấy một cô gái quê ăn mặc giản dị, nhưng sạch sẽ. Đôi mắt Tâm gặp đôi mắt cô ta, đen láy, mở to nhìn chàng: – Cậu Tâm đấy, con không nhớ ư? Cô Trinh mỉm cười: – Thưa, có ạ, ai chứ cậu Tâm thì quên thế nào được. Hình như lỡ lời, cô thiếu nữ cúi mặt, hơi e lệ. Cái cử chỉ ấy, và lời nói đã không làm cho Tâm cảm động, lại làm cho chàng hơi ghét. Cô gái quê mùa tưởng chàng để ý đến chắc? Vì vậy, Tâm cất tiếng hỏi hơi sẵng: – Thế nào, cô Trinh còn đợi gì mà không lấy chồng đi cho tôi ăn mừng. Thấy thiếu nữ không trả lời, Tâm để ý nhìn. Chàng thấy cô ta không thay đổi, tuy có nhớn lên mà vẫn là cái cô bé chơi đùa với chàng thuở còn nhỏ. Tâm nhận thấy, ở thôn quê, người ta không thay đổi mấy, và tính tình vẫn giữ được y nguyên. Nhưng chàng, thì chàng thay đổi khác hẳn rồi. Những kỷ niệm cũ đối với chàng bây giờ thành ra trẻ con và vô vị. Tâm không thấy có sự tha thiết giữa chàng và cảnh cũ nữa. Bây giờ, chàng không khi nào có cái ý tưởng điên rồ đi lấy một cô gái quê như Trinh để sống một cái đời tối tăm nghèo khổ. Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không có liên lạc gì với nhau cả. Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ. Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy. Bà cụ nhìn theo khẩn khoản: – Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra. – Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm. Tâm lại an ủi: – Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về. 10
  11. Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói: – Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho. Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt.[ ] (Truyện ngắn Trở về– Trích Truyện ngắn Thạch Lam, NXB Văn học 2012) Trả lời các câu hỏi: Câu 1. (1.0 điểm) Xác định ngôi kể câu chuyện? Tác giả chọn điểm nhìn chủ yếu từ nhân vật nào? Câu 2. (1.0 điểm) Sự việc nào làm nảy sinh tâm trạng của Tâm? Câu 3. (1.0 điểm) Thái độ của Tâm khi trò chuyện với mẹ và cô Trinh? Câu 4. (1.0 điểm) Em suy nghĩ gì về hành động và lời nói của Tâm qua những câu văn: “Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói: – Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho .” Câu 5. (1.0 điểm) Thông qua văn bản “Trở về”, tác giả gửi đến người đọc thông điệp gì? II. PHẦN VIẾT (5.0 điểm) Từ nội dung đọc – hiểu truyện ngắn “Trở về”-Thạch Lam, em hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ về những hành động bất hiếu trong cuộc sống. -HẾT- 11
  12. ĐỀ 6 I. PHẦN ĐỌC (5.0 điểm) Đọc văn bản sau: Bài học tuổi thơ Thằng con tôi 11 tuổi, học lớp sáu. Qua mùa thi chuyển cấp, nhân một buổi chiều cho con đi chơi mát, nó kể... Đang hỏi nó về chuyện thi cử, nó chợt hỏi lại tôi: - Ba! Có bao giờ thấy có một bài luận văn nào điểm không không ba? Con số không cô cho bự bằng quả trứng gà. Không phải cho bên lề, mà một vòng tròn giữa trang giấy. Thiệt đó ba. Chuyện ngay trong lớp của con, chứ không phải con nghe kể đâu. Tôi chưa kịp hỏi, nó tiếp: - Còn thua ba nữa đó, ba. Iít nhứt ba cũng được nửa điểm. Còn thằng bạn của con, con số không bự như quả trứng. Thằng con tôi ngửa mặt cười, có lẽ nó thấy thú vị vì thời học trò của ba nó ít nhứt cũng hơn được một đứa. Số là cách đây vài năm, có một nhà xuất bản gởi đến các nhà văn nhà thơ quen biết trong cả nước một câu hỏi, tôi còn nhớ đại ý, nhà văn nhà thơ thời thơ ấu học văn như thế nào, nhà xuất bản in thành sách "Nhà văn học văn". Đọc qua, nghe các nhà văn nhà thơ kể, tất nhiên là mỗi người có mỗi cuộc đời, mỗi người mỗi giọng văn, nhìn chung thì người nào, lúc còn đi học, cũng có khiếu văn, giỏi văn. Nếu không thì lấy gì làm cơ sở để sau này trở thành nhà văn? Rất lô-gích và rất là tự nhiên vậy. Duy chỉ có bài của tôi hơi khác, có gì như ngược lại. Tôi kể, hồi tôi học ở trường trung học Nguyễn Văn Tố (1948 - 1950), tôi là một học sinh trung bình, về môn văn không đến nỗi liệt vào loại kém, nhưng không có gì tỏ ra là người có khiếu văn chương. Và có một lần, bài luận văn của tôi chỉ được có một điểm trên hai mươi (1/20). Đó là kỷ niệm không quên trong đời học sinh của tôi, môn văn. Khi con tôi đọc bài văn đó, con tôi hỏi: - Sao bây giờ ba là nhà văn? Và bạn bè cũng hỏi như vậy. Tôi cũng đã tự lý giải về mình, và lời giải cũng đã in vào sách rồi, xin không nhắc lại. Tôi hỏi con tôi: - Luận văn cô cho khó lắm hay sao mà bạn con bị không điểm. - Luận văn cô cho "Trò hãy tả buổi làm việc ban đêm của bố". - Con được mấy điểm? - Con được sáu điểm. - Con tả ba như thế nào? - Thì ba làm việc làm sao thì con tả vậy. 12
  13. - Mấy đứa khác, bạn của con? Thằng con tôi như chợt nhớ, nó liến thoắng: - A! Có một thằng ba nó không hề làm việc ban đêm mà nó cũng được sáu điểm đó ba. - Đêm ba nó làm gì? - Nó nói, đêm ba nó toàn đi nhậu. - Nó tả ba nó đi nhậu à? - Dạ không phải. Ba nó làm việc ban ngày nhưng khi nó tả thì nó tả ba nó làm việc ban đêm, ba hiểu chưa? - Còn thằng bạn bị không điểm, nó tả như thế nào? - Nó không tả không viết gì hết, nó nộp giấy trắng cho cô. - Sao vậy? Hôm trả lại bài cho lớp, cô gọi nó lên, cô giận lắm, ba. Cô hét: "Sao trò không làm bài". Nó cúi đầu làm thinh. Cô lại hét to hơn: "Hả?". Nó cũng làm thinh. Tụi con ngồi dưới, đứa nào cũng run. - Nó là học trò loại " cá biệt" à? - Không phải đâu ba, học trò tiên tiến đó ba. - Sao nữa? Nó trả lời cô giáo như thế nào? Nó cứ làm thinh. Tức quá, cô mới quất cây thước xuống bàn cái chát: "Sao trò không làm bài?" Tới lúc đó nó mới nói: "Thưa cô, con không có ba". Nghe nó nói, hai con mắt của cô con mở tròn như hai cái tô. Cô đứng sững như trời trồng vậy ba! Tôi bỗng nhập vai là cô giáo. Tôi thấy mình ngã qụy xuống trước đứa học trò không có ba. Sau đó cô và cả lớp mới được biết, em mồ côi cha khi vừa mới lọt lòng mẹ. Ba em hy sinh trên chiến trường biên giới. Từ ấy, má em ở vậy, tần tảo nuôi con... Có người hỏi em: "Sao mày không tả ba của đứa khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má. Chuyện của đứa học trò bị bài văn không điểm đã để lại trong tôi một nỗi đau. Em bị không điểm, nhưng với tôi, người viết văn là một bài học, bài học trung thực. Sáng tạo không đồng nghĩa với bịa đặt. Giữa những dòng chữ bịa đặt và trang giấy trắng, tôi xin để trang giấy trắng trung thực trên bàn viết. ( Mùa thu, 1990- Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng) Trả lời các câu hỏi: Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? Qua điểm nhìn chủ yếu của nhân vật nào? (1.0đ) 13
  14. Câu 2. Câu văn Có người hỏi em: "Sao mày không tả ba của đứa khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má thể hiện cảm xúc gì của nhân vật? (1.0đ) Câu 3. Cậu bé học trò bị bài văn không điểm hiện lên như thế nào trong tác phẩm? Nhận xét tình cảm, thái độ của tác giả dành cho cậu bé học trò bị bài văn không điểm? (1.0đ) Câu 4. Chủ đề của truyện ngắn trên là gì? (1.0đ) Câu 5. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng muốn gửi gắm ý nghĩa gì qua phần kết của câu chuyện? (1.0đ) II. PHẦN VIẾT (5.0 điểm) Từ nội dung đọc-hiểu truyện ngắn trên, em hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của tính trung thực trong cuộc sống. ----HẾT--- 14
  15. ĐỀ 7 I. ĐỌC HIỂU: (5.0 điểm) Đọc truyện ngắn sau: (Lược dẫn: Con Mực là con chó có nhiều tật xấu. Người ta đã định giết thịt nó, nhưng vì nhiều lí do nên ngày xử con Mực liên tục bị hoãn lại. Cuối cùng, người ta quyết định sẽ giết con Mực để mừng người con trai tên Du xa nhà nhiều năm nay mới trở về). Bữa ăn xong, con Hoa cầm bát cơm ra: một tay nó xách cái thúng như để rồi xếp bát. Thấy được ăn, tất cả thú tính của con Mực hoàn toàn nổi dậy. Nó nhảy tới vẫy đuôi hếch mõm nhìn và đợi. Cơm vừa đổ xuống nó vội vàng chúi mõm ăn ngay. Miếng chưa qua cổ thì cái thúng đã chụp quanh trên mình. Nó rít lên, vùng mạnh; nhưng Hoa đã tì cả người lên cái thúng rồi, và con Mực bị thu gọn ở trong vừa vặn đến nỗi không còn giẫy và kêu được. Lũ trẻ con réo ầm lên. Người ta lấy sẵn dao thớt và dây để trói. Phần mở thúng đã đành phải về Du: ông chủ đi vắng, cả nhà chỉ có chàng là đàn ông, mà không lẽ đi mượn hàng xóm trói giùm một con chó đã úp gọn gàng chỉ việc hơi hé cạp thúng lên, hễ chó thò đầu ra thì một đứa em đặt gậy lên cổ nó để chân chàng dận xuống. Nhưng tay chàng thấy run run. Và khi con chó vừa thò đầu ra thì nó quẫy luôn một cái mạnh, vùng ra được. Con Hoa tủm tỉm cười. Lũ em ngơ ngác nhìn theo con chó vừa ẳng ẳng vừa chạy ở ngoài vườn. Còn Du thì mặt đỏ như gấc chín. Chàng thấy mình yếu tay hơn cả con Hoa. Có lẽ nào chàng lại dịu lòng hơn cả một người con gái. Và tự nhiên chàng giận con Mực. Người ta còn lo con Mực sợ hãi mà đi mất. Quả nhiên suốt ngày hôm ấy nó không về. Nó vẩn vơ vườn hàng xóm, lẩn lút như một con chó trước khi hóa dại. Người ta tưởng đã mất toi. Nhưng tối hôm ấy nó lần vào gầm giường rồi Du lại nghe thấy cái thứ tiếng gà gáy của nó rít lên ở phía ngõ. Sáng hôm sau nó vẫn bỏ cơm. Trưa cũng thế. Và cứ thấy bóng người lại cúp đuôi chạy mất. Du thương hại sai người đem cơm đổ ra vườn. Một lúc sau Mực lại gần. Nó trông trước trông sau, đưa mõm rê trên những hạt cơm rồi vô cớ giật mình chạy thẳng. Có lẽ cái kỷ niệm khủng khiếp vừa lóe ra và đập mạnh vào thần kinh nó như luồng điện. Du thấy bồn chồn và vẩn vơ: thương, hối hận hay là thẹn. Sau cùng thì chàng bực mình: chàng nhận ra rằng một con chó đã làm mất sự bình tĩnh của tâm hồn chàng. Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm. Chàng muốn có đủ can đảm để giết người. Phải dám giết mà không run tay khi cần phải giết. Còn làm được trò gì nữa nếu chỉ giết một con chó mà tim cũng đập? Sự do dự đã hết rồi. Khi có một ý định thì ý định ấy chóng thành mạnh mẽ. Du thấy lòng cứng cỏi. Ðã có lúc chàng tưởng đến cái thú dí con dao vào súc thịt giẫy lên đành đạch để máu ấm phọt vào tay. Và chiều hôm ấy khi thấy con chó ở vườn thì chàng gần như mừng rỡ. Con vật khốn nạn đói và sợ đã mệt lử đi rồi. Nó hiện ngủ bên bờ giậu. Du cầm cái gậy to rón rén lại gần. Nhưng giơ gậy lên chàng bỗng thấy tim run một cái. Chàng tưởng như ngạt thở và ngừng lại một giây để nhìn con chó. Giấc ngủ của nó có lẽ đầy ác mộng vì thỉnh thoảng khắp mình nó lại giật lên. Du thấy lòng quả quyết tiêu tán hết. Nhưng con chó bỗng giật mình. Du hoảng hốt thẳng cánh vụt mạnh trên mình nó, bụng nó thót hẳn vào rồi lại phình ra như một khối cao su. Nó rống lên gượng dậy loạng choạng mấy vòng 15
  16. rồi chui bừa qua giậu trong khi Du vụt cuống cuồng theo xuống đất... Ðêm đã khuya. Du lại nghe tiếng Mực rống lên. Chàng thấy toát mồ hôi và nhất định không giết con chó nữa. Nhưng trời gần sáng chàng còn đương mơ mộng, thì đã nghe tiếng Hoa gọi cuống cuồng lên. Con vật khốn nạn không biết mỏi mệt thế nào mà ngủ quên đi ngay ở giữa sân để đến nỗi bị Hoa úp được. Lần này thì người ta cẩn thận hơn. Hai ba người nắm vào hai đầu gậy tre ngáng sẵn bên cạnh thúng rồi Hoa mới hơi hé miệng thúng lên. Thấy sáng con Mực nhô ra ngoài cái mõm ướt phì phì. Hoa nhích lên tí nữa nhưng một cái gối đã tì sẵn trên thúng. Mực lách cả cái đầu ra. Cái gậy đè mạnh xuống. Con vật khốn nạn không còn kịp kêu. - Ðè chặt, thật chặt, đừng buông nó ra nó cắn đấy! Du kêu lên như thế nhưng tiếng chàng đã hơi run run. Con chó phì một cái nữa: hơi thở mới thoát ra một nửa bị tắc. Cái gậy đè sát đất, mắt nó trợn lên. Lòng đen ươn ướt cứ đờ dần rồi ngược lên lần một nửa vào mí trên. Lòng trắng đã hơi đục. Lúc Hoa trói xong cả chân trước, chân sau và buộc mõm rồi thì con chó đã mềm ra không còn cựa quậy nữa. Du nghẹn ngào nén khóc... (Trích Cái chết của con Mực, Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học) Trả lời các câu hỏi: Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? Qua điểm nhìn chủ yếu của nhân vật nào? Câu 2. Tình huống trong truyện ngắn trên là gì? Câu 3. Qua quá trình tìm cách giết con Mực, bạn thấy nhân vật Du là một con người như thế nào? Câu 4. Chủ đề của truyện ngắn trên là gì? Câu 5. Em rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc truyện ngắn trên? II. VIẾT (5.0 điểm) Từ nội dung đọc-hiểu truyện ngắn trên, em hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống. -----Hết----- 16
  17. ĐỀ 8 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (5.0 điểm) Đọc truyện ngắn sau: ÁO TẾT Nguyễn Ngọc Tư Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: - Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về ngoại thì mùng hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn. Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm: - Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa? - Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được. - Vậy mầy được mấy bộ? - Có một bộ hà. Con bé Em trợn mắt: - Ít quá vậy? - Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó. - Vậy à? Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không. Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó: - Còn mầy? - Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng một tới mùng bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn. - Mầy sướng rồi. Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng 17
  18. rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới. Má nó nói hoài: “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng: - Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen? Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen: - Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng. Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó. (In trong Bánh trái mùa xưa, NXB Văn học) Trả lời các câu hỏi: Câu 1. (1.0đ) Xác định điểm nhìn của người kể chuyện. Tác giả chọn điểm nhìn chủ yếu từ nhân vật nào? Câu 2. (1.0đ) Chỉ ra những đặc điểm trong cốt truyện của truyện ngắn hiện đại được thể hiện trong văn bản trên. Câu 3. (1.0đ) Xác định nội dung chính của văn bản. Câu 4. (1.0đ) Theo em, vì sao bé Em lại không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo? Hành động đó nói lên điều gì ở bé Em? Câu 5. (1.0đ) Từ truyện ngắn trên, em rút ra bài học gì cho bản thân? II. PHẦN VIẾT (5.0 điểm) Từ nội dung đọc – hiểu truyện ngắn “Áo Tết” – Nguyễn Ngọc Tư, em hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của mình về tình bạn đẹp trong cuộc sống. -----Hết----- 18