10 Đề ôn tập học kì II môn Ngữ văn Lớp 10
Bạn đang xem tài liệu "10 Đề ôn tập học kì II môn Ngữ văn Lớp 10", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
10_de_on_tap_hoc_ki_ii_mon_ngu_van_lop_10.docx
Nội dung tài liệu: 10 Đề ôn tập học kì II môn Ngữ văn Lớp 10
- ĐỀ ÔN TẬP HỌC KÌ II NGỮ VĂN 10 I/ Đọc hiểu (6 điểm) Đọc bài thơ sau: ĐÒ LÈN Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần níu váy bà đi chợ Bình Lâm cái năm đói củ dong riềng luộc sượng bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi bà mò cua xúc tép ở đồng Quan khi tôi biết thương bà thì đã muộn bà đi gánh chè xanh Ba Trại bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi! Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm (Đò Lèn, Nguyễn Duy - Trích tập thơ Ánh hàn trăng – NXB Tác phẩm mới - 1/1984) Thực hiện các yêu cầu sau Câu 1 Xác định thể thơ của văn bản Câu 2 Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ? Câu 3 Từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện sự lam lũ, vất vả của người bà trong bài thơ? Câu 4 Anh/ chị hiểu như thế nào về hai câu thơ sau: khi tôi biết thương bà thì đã muộn bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi! Câu 5 Theo anh/ chị tác giả muốn gởi gắm thông điệp gì qua bài thơ? Câu 6 Cảm nhận sâu sắc của anh/ chị về tình cảm của người cháu dành cho bà và rút ra được những bài học gì bản thân Phần II Làm văn (4 điểm) Viết bài văn nghị luận khuyên thay đổi thói quen không ăn sáng của một bộ phận giới trẻ hiện nay.
- ĐỀ 2 I.Đọc hiểu Đọc bài thơ và trả lời các câu hỏi HỌC ĐI CON Học cho biết cách làm người Học sao để nhớ những lời mẹ ru Học cho khỏi dốt khỏi ngu Học tâm học tính để tu dưỡng mình Học cho biết nghĩa biết tình Học cho lòng dạ trắng tinh ở đời Học chiều không thuộc học đêm Học đêm không đủ học thêm ban ngày Có công học tập hôm nay Để mai khôn lớn khỏi say bạc tiền Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ ? Câu 2: Tìm biện pháp tu từ chủ yếu và nêu tác dụng? Câu 3: Trong bài thơ dạy người con cần học để làm gì? Câu 4: Từ cách học trong bài thơ, em đề xuất 2 cách học của bản thân đã áp dụng ? Câu 5: Tại sao trong bài thơ, tác giả chú trọng dạy nhân cách nhiều hơn kiến thức ? Câu 6: Thông điệp mà bài thơ gửi gấm là gì? II. VIẾT (4.0 điểm) Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận thuyết phục các bạn học sinh từ bỏ thói quen lười học tập của đa số học sinh hiện nay. ĐỀ 3: I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời. Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con. Tháng ngày con mẹ lớn khôn, Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha, Đời bao tâm sự thiết tha Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ... (Trích bài thơ “Nằm trong tiếng nói yêu thương”- Huy Cận)
- Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên? Câu 2. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: “Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha.”? Câu 3. Tác dụng của tiếng Việt được thể hiện trong hai câu thơ: “Đời bao tâm sự thiết tha Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ...” Câu 4. Theo em, chủ đề của đoạn thơ trên là gì? Câu 5. Cảm xúc của nhân vật trữ tình thể hiện trong văn bản? (Thái độ, tư tưởng tình cảm của tác giả trong đoạn thơ) Câu 6. Tiếng Việt rất giàu và đẹp. Để bày tỏ tình yêu tiếng Việt, góp phần gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt, em cần làm gì? II. Làm văn (4điểm) Viết bài luận (khoảng 200 chữ) thuyết phục bạn từ bỏ thói quen làm việc riêng trong giờ học. ĐỀ 4 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm) Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi: (1) Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không... (2) Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu! (Khi con tu hú, Tố Hữu, in trong Từ ấy, NXB Văn học, Hà Nội, 1971) Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ? Câu 2. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? Câu 3. Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn (1) và nêu tác dụng? Câu 4. Dòng thơ nào nói về tâm trạng của chủ thể trữ tình trong bài thơ? Câu 5. Chủ đề của bài thơ? Câu 6. Thông điệp có ý nghĩa tích cực mà anh/ chị nhận được sau khi đọc bài thơ? II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
- Viết bài văn nghị luận thuyết phục bạn cùng lớp từ bỏ thói quen nói tục, chửi thề, nói lời xúc phạm người khác trong lớp học. Đề 5 I. Đọc hiểu (6 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: QUÀ CỦA BÀ Bà tôi bận lắm, cặm cụi công việc suốt ngày. Nhưng chả lần nào đi chợ mà bà không tạt vào thăm hai anh em tôi, cho chúng tôi khi thì tấm bánh đa, quả thị, khi thì củ sắn luộc hoặc mớ táo. Ăn quà của bà rất thích, nhưng ngồi vào lòng bà nghe bà kể chuyện còn thích hơn nhiều. Gần đây, bà tôi không được khỏe như xưa nữa. Đã hai năm nay, bà bị đau chân. Bà không đi chợ được, cũng không đến chơi với các cháu được. Thế nhưng lần nào chúng tôi đến thăm bà, bà cũng vẫn có quà cho chúng tôi: Khi thì mấy củ dong riềng, khi thì cây mía, quả na hoặc mấy khúc sắn dây, toàn những thứ tự tay bà trồng ra. Chiều qua, đi học về, tôi chạy đến thăm bà. Bà ngồi dây, cười cười, rồi tay bà run run, bà mở cái tay nải của bà, đưa cho tôi một gói quà đặc biệt: Ô mai sấu! (Theo Vũ Tú Nam) Câu 1 (1,0 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản? Câu 2 (1,0 điểm): Nêu chủ đề của văn bản trên? Câu 3: (1,0 điểm) Theo văn bản, những hành động của bà thể hiện tình cảm dành cho cháu? Câu 4 (1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu sau: “Bà ngồi dây, cười cười, rồi tay bà run run, bà mở cái tay nải của bà, đưa cho tôi một gói quà đặc biệt: ô mai sấu!” Câu 5 (1,0 điểm): Qua câu chuyện, anh/chị thấy tình cảm người bà dành cho cháu như thế nào? Câu 6 (1,0 điểm): Câu chuyện gợi cho em suy nghĩ gì về bổn phận của mình đối với ông bà? ( Nêu từ 3 ý trở lên) II. Làm văn (4 điểm) Anh/chị hãy viết bài luận bày tỏ suy nghĩ về quan niệm im lặng là vàng. ĐỀ 6 I. Phần đọc (6.0 điểm): Đọc bài văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Hai bệnh nhân trong bệnh viện Hai người đàn ông lớn tuổi đều bị ốm nặng và cùng nằm trong một phòng của bệnh viện. Họ không được phép ra khỏi phòng của mình. Một trong hai người được bố trí nằm trên chiếc giường cạnh cửa sổ. Còn người kia phải nằm suốt ngày trên chiếc giường ở góc phía trong. Một buổi chiều, người nằm trên giường cạnh cửa sổ được ngồi dậy. Ông ấy miêu tả cho người bạn cùng phòng kia nghe tất cả những gì ông thấy bên ngoài cửa sổ. Người nằm trên giường kia cảm thấy rất vui vì những gì đã nghe được: ngoài đó là một công viên, có hồ cá, có trẻ con chèo thuyền, có thật nhiều hoa và cây, có những đôi vợ chồng già dắt tay nhau di dạo mát quanh hồ.
- Khi người nằm cạnh cửa sổ miêu tả thì người kia thường nhắm mắt và hình dung ra cảnh tượng tuyệt vời bên ngoài. Ông cảm thấy mình đang chứng kiến những cảnh đó qua lời kể sinh động của người bạn cùng phòng. Nhưng rồi đến một hôm, ông nằm bên cửa sổ bất động. Các cô y tá với vẻ mặt buồn đến đưa đi vì ông ta qua đời. Người bệnh nằm ở phía giường trong đề nghị cô y tá chuyển ông ra nằm ở giường cạnh cửa sổ. Cô y tá đồng ý. Ông chậm chạp chống tay để ngồi lên. Ông nhìn ra cửa sổ ngoài phòng bệnh. Nhưng ngoài đó chỉ là một bức tường chắn. Ông ta gọi cô y tá và hỏi tại sao người bệnh nằm ở giường này lại miêu tả cảnh đẹp đến thế. Cô y tá đáp: - Thưa bác, ông ấy bị mù. Thậm chí cái bức tường chắn kia, ông ấy cũng chẳng nhìn thấy. Có thể ông ấy chỉ muốn làm cho bác vui thôi! Theo N.V.D Câu 1. Xác định điểm nhìn trong câu chuyện trên? Câu 2. Chủ đề của câu chuyện ? Câu 3. Người nằm trên giường cạnh cửa sổ miêu tả cho người bạn cùng phòng thấy được cuộc sống bên ngoài cửa sổ như thế nào? Câu 4. Vì sao qua lời miêu tả của bạn, người bệnh nằm giường phía trong thường nhắm hai mặt lại và cảm thấy rất vui? Câu 5. Theo em, tính cách của người bệnh nhân mù có những điểm gì đáng quý? Câu 6. Qua câu chuyện trên, em rút ra thông điệp gì ? II. Phần viết (4.0 điểm): Anh/chị hãy viết một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ quan niệm kì thị người khuyết tật. ĐỀ 7 I. Phần Đọc (6.0 điểm) Đoàn ca múa nhạc giải tán, thằng Quách Phú Thàn dẫn ông già Năm Nhỏ về ngã ba Sương, Thàn có nhỏ bồ mới quen bán quán ở đó. Con nhỏ tên Diễm Thương, nghe hay, mà khuôn mặt cũng ngộ, không đẹp nhưng bình thản, lạnh trơ, không ra vui, buồn, đố ai biết nó nghĩ gì. Nó hất mái tóc nhuộm vàng hoe chơm chởm như rễ tre, nhìn hai người, cười héo hắt "ăn bám mà kéo theo cả bầy”. Thàn cười hề hề, bảo "Ông Năm, bạn anh. Dễ thương lắm”. Đêm đó, ông già không ngủ được, thằng Thàn đi chơi nửa đêm mới mò về, thấy ông khọm rọm ngồi ngoài vách mùng, điếu thuốc cháy lập lòe soi bộ râu xơ xác. Thàn mở dây giày, hỏi “Nhớ đoàn quá, ngủ không được hả tía?”. Ông già lắc đầu, thở dài, nghe buồn xa xắc như lá rụng hoa rơi, bần thần, điệu này hỏng biết cách nào tìm cho ra con Cải. Ông đã đi tìm con nhỏ gần mười hai năm. Lúc Cải mười ba tuổi, một bữa mê chơi làm mất đôi trâu, sợ đòn, nó trốn nhà. Cà nhà tong tả đi tìm nhưng mãi con nhỏ không quay lại. Vợ ông ôm cái áo con Cải khóc, bảo chắc là ông để bụng chuyện nó là con của chồng trước nên ngược đãi, hà khắc, đuổi xua. Ông đau mà không nói được một lời, ông đã nâng niu nó khi mới thôi nôi, đã vui khi có người bảo con nhỏ giống ông in hệt (dù biết họ khen khơi khơi, khen bổng trên trời) đã sướng rơn khi nó gọi tiếng ba ơi, con Cải
- đi rồi, ông đã xuống nuớc mắt khi đi qua chiếc giường trước kia nó ngủ. Có bữa, ông hì hụi ém mùng, rồi ngồi một góc, nhìn chiếu gối thênh thang, lòng chết điếng vì nỗi nhớ con, vì lo nó lưu lạc giữa đời. Như thế mà ông không thương nó sao? Như thế mà là không thương à??? Nhà buồn u buồn ám, vì đã ít người rồi bây giờ lại chẳng nhìn, chẳng cười nói với nhau. Sau, người ta còn đồn đãi ông giết con nhỏ rồi lấp ở một chỗ đất nào, họ kìn kìn lại coi (ai mà giàu tưởng tượng vậy không biết?). Ông khăn gói bỏ xứ ra đi, bụng dạ đinh ninh dứt khoát tìm được con Cải về. Ai dè, biển người mênh mông. Mỏi chân, ông xin làm sai vặt trong đoàn ca múa nhạc, để trước giờ diễn, ông muợn cái micro nói vài câu “Cải ơi, ba là Năm nhỏ nè con ” Bữa nào thằng Thàn nhớ nhà, nghe câu ấy nó cũng rơm rớm nuớc mắt, bảo” con thương ông già con quá, tía ơi!!!” Hôm đi ba thằng Thàn còn cầm khúc bình bát bằng cổ tay rượt nó chạy ngời ngời, nhảy xuống đò, nó ngoái lại nói để con làm ca sĩ nổi tiếng cho ba coi, thấy ông dứ cây lên trời. Hai năm, ông già đã chỏng đầu cây xuống đất, tựa vào nó để buớc đi, tên tuổi Thàn mờ mịt. (Cải ơi! - Cánh đồng bất tận - Nguyễn Ngọc Tư) Hãy đọc văn bản trên và thực hiện những yêu cầu sau đây: Câu 1. Xác định ngôi kể của đoạn trích, tác dụng của ngôi kể? Câu 2. Nội dung chính của đoạn trích ( dưới 5 dòng) Câu 3. Theo văn bản, vì sao con Cải bỏ nhà ra đi? Câu 4. Qua đoạn trích, ông Năm Nhỏ là con người thế nào? Căn cứ vào đâu? Câu 5. Từ nội dung đoạn trích, ta thấy được đặc điểm con người Nam Bộ Câu 6. Từ đoạn trích, thông điệp nào em tâm đắc nhất? Vì sao? II. Phần Viết (4.0 điểm) Anh/chị hãy viết một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen sống vô cảm, không quan tâm đến những người xung quanh. ĐỀ 8 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: VẾT NỨT VÀ CON KIẾN Khi ngồi ở bậc thềm trước nhà, tôi nhìn thấy một con kiến đang tha chiếc lá trên lưng. Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần. Bò được một lúc, con kiến chạm phải một vết nứt khá lớn trên nền xi măng. Nó dừng lại giây lát. Tôi tưởng con kiến hoặc là quay lại, hoặc là sẽ một mình bò qua vết nứt đó. Nhưng không. Con kiến đặt chiếc lá ngang qua vết nứt trước, sau đó đến lượt nó vượt qua bằng cách vượt lên trên chiếc lá. Đến bờ bên kia, con kiến lại tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình. Hình ảnh đó bất chợt làm tôi nghĩ rằng tại sao mình không thể học loài kiến nhỏ bé kia, biến những trở ngại, khó khăn của ngày hôm nay thành hành trang quý giá cho ngày mai tươi sáng hơn! (Theo Hạt giống tâm hồn, tập 5, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013) Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên? Câu 2: Câu truyện “Vết nứt và con kiến” được kể theo lời kể của ai? Xác định ngôi kể trong cậu truyện đó? Câu 3: Khi ngồi ở bậc thềm trước nhà, nhân vật “tôi” đã nhìn thấy điều gì?
- Câu 4: Ý nghĩa ẩn dụ của hình ảnh “vết nứt”? Câu 5: Vì sao tác giả cho rằng: “tại sao mình không thể học loài kiến nhỏ bé kia, biến những trở ngại, khó khăn của ngày hôm nay thành hành trang quý giá cho ngày mai tươi sáng hơn!”? Câu 6: Từ văn bản trên, hãy rút ra cho mình một bài học mà anh/chị tâm đắc nhất? II. PHẦN VIẾT (4 điểm) Viết bài văn nghị luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen có hại về vấn đề hút thuốc lá. ĐỀ 9 I. PHẦN ĐỌC (6,0 điểm) Đọc văn bản/ đoạn trích sau: Chẳng ai biết lai lịch của bà, chỉ biết tên bà là Diễm. Diễm là đẹp, là diễm lệ. Ngoài vẻ đẹp, còn mang vẻ sang. Có ai gọi một củ khoai là diễm lệ đâu. Hẳn bố mẹ xưa đặt tên cho con cũng thầm ao ước sao cho con vừa đẹp lại vừa khỏi lầm than. Nhưng trông bà cả một sự nhạo báng cái mong ước đó. Dáng người bà Diễm bé loắt choắt, bộ mặt nhăn nheo, gầy sạm chỉ còn hai con mắt. Bà vừa đi vừa lắc lư cái lưng còng. Chiếc đòn gánh không bao giờ rời khỏi đôi vai còm cõi của bà. Nó bám chặt lấy bà như một thứ nghiệp chướng. Chiếc đòn gánh của bà cũng thật đặc biệt. Nó nhẵn bóng. Ngay cả những vết sẹo cũng đã nhẵn bóng và cũng khó đoán tuổi như chủ nhân của nó vậy. Nó đã tồn tại cùng bà không biết tự bao giờ. Nó được đẽo gọt từ một thân tre cong hằn dấu vết của những cơn gió táp và ra đời chỉ để đón đợi đôi vai còm cõi của bà Diễm mà thôi. Nó và chủ nhân của nó hợp thành một chỉnh thể của sự bất hạnh, hợp thành biểu tượng của một thân cây vừa mới ra đời đã bị gió mưa vùi dập. Cuối hai đầu đòn gánh là đôi thùng đầy nước lắc lư theo những bước chân không đều của bà Diễm và để lại những vệt nước rỏ ròng ròng như suối nước mắt cạnh đường đi. Những lúc đôi vai được rảnh rang, đôi môi bà lại lẩm nhẩm những câu không đầu không cuối. Bà đi và nói như người lẩn thẩn, nhưng những cử chỉ của bà vẫn chính xác một cách kỳ lạ. Đến máy nước bao giờ bà cũng đi sát mép đường bên phải và lặng lẽ đợi đến lượt mình, không xin xỏ, không tranh giành. Những nhà có máu mặt trong khu này thuê bà gánh nước. Họ chẳng ưa gì bà. Họ săm soi xem thùng nước bà gánh về có trong không. Có đáng đồng tiền của họ bỏ ra không. Có người nghi ngờ, bắt bà tháo cả bể nước đầy ra gánh lại, lấy cớ là bà đã lấy nước bẩn vào bể của họ. Cũng có những người trả tiền sòng phẳng, hậu hĩ là khác nhưng họ đưa tiền cho bà rồi vội quay đi như chỉ sợ dềnh dàng bà nhỡ mồm bắt chuyện thì mất cả thì giờ và mất cả thể diện nữa. Con người ta thường hay chối bỏ quá khứ, nếu quá khứ đó là không vẻ vang. Người đời nay coi nó là bệnh "sĩ". Nếu như những năm sáu mươi của thế kỷ này người ta cố chứng minh rằng gốc gác của mình là bần cố nông thì trong những năm tám mươi người ta lại cố khoe rằng nhà mình giàu có ra sao, bịa cả những chuyện đài các rởm không biết ngượng mồm. Thôi thì cũng chẳng trách họ, âu cũng là do cách nhìn người của thời đại mà ra. Những bộ mặt đần độn trát bự son phấn vênh váo, đầy kiêu hãnh giả tạo. Và trong cơn mơ đài các sang giàu của họ, bà Diễm chỉ là một kẻ làm thuê, một người gánh nước cho nhà họ. Một thời, chúng ta đã ghê tởm những từ "con ở", "đầy tớ", "gái điếm"... Nhưng giờ đây, những từ đó đã và đang lặng lẽ trở về nhắc nhở người ta rằng, chúng có mặt trên đời này. Vậy là bà Diễm hệt như con gà trụi lông giữa đàn công sặc sỡ. Nhưng bà gắn bó với họ, đúng hơn là với bể nước nhà họ, vì chỉ có họ mới đủ sức thuê bà gánh nước. Còn đa số "người nhà nước" trong khu này chẳng ai đủ tiền để mà thuê, dù muốn giúp bà. Cơm ăn chẳng đủ, lấy đâu ra tiền mà
- thuê gánh nước. Đành phải xếp hàng dài dằng dặc, hoặc thức đến hai ba giờ sáng để lấy mấy thùng nước. Với đôi thùng gánh nước, cứ thế, bà Diễm đi trong đời như kẻ mộng du và rồi có lẽ với cung cách mộng du ấy bà sẽ lặng lẽ đi xuống mồ, như một hạt bụi tan biến vào không gian chẳng để lại một mảy may dấu vết. (Trích Người gánh nước thuê, Võ Thị Hảo, 20 truyện ngắn chọn lọc, NXB Lao động, 2009, tr 291 - 293) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích. Câu 2. Tìm những chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật bà Diễm. Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp so sánh trong câu văn sau: “Cuối hai đầu đòn gánh là đôi thùng đầy nước lắc lư theo những bước chân không đều của bà Diễm và để lại những vệt nước rỏ ròng ròng như suối nước mắt cạnh đường đi.” Câu 4. Nhận xét thái độ, tình cảm của nhà văn được thể hiện qua đoạn trích trên. Câu 5. . “Con người ta thường hay chối bỏ quá khứ, nếu quá khứ đó là không vẻ vang. Người đời nay coi nó là bệnh "sĩ". Nếu như những năm sáu mươi của thế kỷ này người ta cố chứng minh rằng gốc gác của mình là bần cố nông thì trong những năm tám mươi người ta lại cố khoe rằng nhà mình giàu có ra sao, bịa cả những chuyện đài các rởm không biết ngượng mồm. Thôi thì cũng chẳng trách họ, âu cũng là do cách nhìn người của thời đại mà ra. Những bộ mặt đần độn trát bự son phấn vênh váo, đầy kiêu hãnh giả tạo”. Từ lối sống của những người nhà giàu thuê bà Diễm gánh nước được nhà văn nói tới trong những câu văn trên, anh/chị có suy nghĩ gì về hậu quả của căn bệnh “sĩ” trong đời sống hiện nay? II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm) Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận thuyết phục các bạn học sinh từ bỏ thói quen xem thường sự khác biệt của người khác. ĐỀ 10 CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG -O. HEN-RI (Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ nghèo, còn trẻ, sống trong một căn hộ thuê ở gần công viên Oa- sinh-tơn. Cụ Bơ-men cũng là một hoạ sĩ nghèo thuê phòng ở tầng dưới. Bốn chục năm nay cụ mơ ước vẽ một kiệt tác nhưng chưa thực hiện được; cụ thường ngồi làm mẫu vẽ cho các hoạ sĩ để kiếm tiền. Lúc ấy là vào mùa đông. Giôn-xi bị bệnh sưng phổi. Bệnh tật và nghèo túng khiến cô tuyệt vọng không muốn sống nữa. Cô đếm từng chiếc lá còn lại trên cây thường xuân bám vào bức tường gạch đối diện với cửa sổ, chờ khi nào chiếc lá cuối cùng rụng nốt thì cô cũng buông xuôi, lìa đời...) Sáng hôm sau, Xiu tỉnh dậy sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ thì thấy Giôn-xi đang mở to cặp mắt thẫn thờ nhìn tấm mành màu xanh đã kéo xuống. “Kéo nó lên, em muốn nhìn”, cô thều thào ra lệnh.
- Xiu làm theo một cách chán nản. Nhưng, ô kìa! Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng kéo dài suốt cả một đêm, tưởng chừng như không bao giờ dứt, vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Đó là chiếc lá cuối cùng trên cây. Ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành cách mặt đất chừng hai mươi bộ. “Đó là chiếc lá cuối cùng”, Giôn-xi nói, “Em cứ tưởng là nhất định trong đêm vừa qua nó đã rụng. Em nghe thấy gió thổi. Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết. “Em thân yêu, thân yêu!”, Xiu nói, cúi khuôn mặt hốc hác xuống gần gối, “Em hãy nghĩ đến chị, nếu em không còn muốn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?”. Nhưng Giôn-xi không trả lời. Cái cô đơn nhất trong khắp thế gian là một tâm hồn đang chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình. Khi những dây ràng buộc cô với tình bạn và với thế gian cứ lơi lỏng dần từng sợi một, ý nghĩ kì quặc ấy hình như càng choán lấy tâm trí cô mạnh mẽ hơn. Ngày hôm đó trôi qua và ngay cả trong ánh hoàng hôn, họ vẫn có thể trông thấy chiếc lá thường xuân đơn độc níu vào cái cuống của nó trên tường. Thế rồi, cùng với màn đêm buông xuống, gió bấc lại ào ào, trong khi mưa vẫn đập mạnh vào cửa sổ và rơi lộp độp xuống đất từ mái hiên thấp kiểu Hà Lan. Khi trời vừa hửng sáng thì Giôn-xi, con người tàn nhẫn, lại ra lệnh kéo mành lên. Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó. Giôn-xi nằm nhìn chiếc lá hồi lâu. Rồi cô gọi Xiu đang quấy món cháo gà trên lò hơi đốt. “Em thật là một con bé hư, chị Xiu thân yêu ơi”, Giôn-xi nói, “Có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội. Giờ thì chị có thể cho em xin tí cháo và chút sữa pha ít rượu vang đỏ và – khoan – đưa cho em chiếc gương tay trước đã, rồi xếp mấy chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng”. Một tiếng đồng hồ sau, cô nói: “Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hi vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ”. Buổi chiều, bác sĩ tới và khi ông ra về, Xiu kiếm cớ ra ngoài hành lang. “Được năm phần mười rồi”, bác sĩ nói và cầm lấy bàn tay mảnh dẻ run rẩy của Xiu, “Chăm sóc chu đáo thì chị sẽ thắng. Và bây giờ tôi phải xuống dưới nhà thăm một bệnh nhân khác, tên là Bơ- men, hình như là một nghệ sĩ thì phải. Cũng lại chứng sưng phổi. Ông cụ là một người già yếu, bệnh tình nguy kịch. Chẳng còn hy vọng gì, nhưng hôm nay ông cụ sẽ vào nằm bệnh viện để được chăm sóc chu đáo hơn”. Hôm sau, bác sĩ bảo Xiu: “Cô ấy khỏi nguy hiểm rồi, chị đã thắng. Giờ chỉ còn việc bồi dưỡng và chăm nom - thế thôi”. Và buổi chiều hôm đó, Xiu tới bên giường Giôn-xi nằm, thấy Giôn-xi đang vui vẻ đan một chiếc khăn choàng len màu xanh thẫm rất vô dụng, chị ôm lấy người Giôn-xi lẫn những chiếc gối. “Chị có chuyện này muốn nói với em, con chuột bạch của chị”, cô nói, “Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi hôm nay ở bệnh viện rồi. Cụ ốm chỉ có hai ngày. Buổi sáng ngày thứ nhất, bác gác cổng thấy cụ ốm nặng trong căn phòng của cụ ở tầng dưới. Giày và áo quần của cụ ướt sũng và lạnh buốt. Chẳng ai hình dung nổi cụ đã ở đâu trong một đêm khủng khiếp như thế. Nhưng rồi
- người ta tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn thắp sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó, và vài chiếc bút lông rơi vung vãi, và một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn với nhau, và - em thân yêu ơi, em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường. Em có lấy làm lạ tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men, - cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng” Câu 1.( 1 điểm) Xác định ngôi kể và tác dụng của ngôi kể ? Câu 2. Xác định nội dung chính của truyện Chiếc lá cuối cùng( không quá 5 dòng) ? Câu 3. ( 1 điểm) Hình ảnh “một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch” biểu trưng cho điều gì ? Câu 4. ( 1 điểm) Câu nói của người chị ‘chính là kiệt tác của cụ Bơ-men, - cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng” cho thấy cụ Bơ-men là người thế nào? Câu 5. ( 1 điểm) Phân tích cách miêu tả nhân vật Giôn-xi, Bơ-men( họa sĩ nghèo), căn cứ vào lời nói, hành động? Câu 6.( 1 điểm) Em học tập được điểu gì tốt đẹp từ câu chuyện ? PHẦN 2: PHẦN VIẾT (4.0 điểm) Anh/chị hãy viết một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ trì hoãn trong công việc của một bộ phận học sinh, giới trẻ hiện nay.

